đặt vấn đề nghiên cứu về rủi ro trong lĩnh vực đầy biến động khó lường, như trong hoạt động tài chính – ngân hàng. * Rủi ro tín dụng Rủi ro là những biến cố không mong đợi xảy ra, mang đến những tổn thất về tài sản cho ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn thanh toán. Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng.
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng, tức là giảm thu nhập ròng. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể khiến ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản. Đối với các nước đang phát triển, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kì vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kì vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn). Rủi ro là một yếu tố khách quan nên người ta không thể nào loại bỏ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của rủi ro cũng như các tác hại do chúng gây ra. Phân loại rủi ro tín dụng Có thể phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh và khả năng trả nợ của khách hàng. Cụ thể như sau: (1) Phân loại theo nguyên nhân phát sinh 7 Theo Trần Huy Hoàng (2010)5, nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại: rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (portfolio risk) (hình 1.
Phân loại rủi ro tín dụng (Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2010) Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay; - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo; 5 Trần Huy Hoàng (2010). Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Lao động xã hội. 8 - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng, được phân thành hai loại: rủi ro nội tại (intrinsic) và rủi ro tập trung (concentration risk). - Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
(2) Phân loại theo khả năng trả nợ của khách hàng. Nếu căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: Rủi ro không hoàn trả đúng hạn và rủi ro do không có khả năng trả nợ. - Rủi ro không hoàn trả đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này người ta gọi đó là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn.
- Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Do vậy ngân hàng phải thanh lý tài sản của khách hàng để thu nợ. Khi không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ cần đưa vào mục lãi treo phát sinh. Nếu NH không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trường hợp NH miễn giảm lãi đó cho doanh nghiệp.
Khi không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh. Tuy 9 nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng vì có thể bởi lý do nào đó mà doanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng. Nếu khoản cho vay này ngân hàng không thể thu hồi được (ví dụ do doanh nghiệp bị phá sản) thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xóa nợ thì ngân hàng có thể xem xét để xóa nợ cho doanh nghiệp. Phân loại rủi ro tín dụng theo khả năng trả nợ của khách hàng (Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2010) Các nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo thường được chú trọng nhiều hơn trong phân tích, đánh giá, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.
Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong vay, trong khuôn khổ luận văn, tác giả đưa ra ba nhóm nguyên nhân sau: (1) Nguyên nhân bất khả kháng: Những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến khách hàng làm cho họ bị suy giảm hoặc mất khả năng thanh toán như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn; tình hình an ninh trong nước, trong khu vực bất ổn; do thay đổi về chính sách vĩ mô (chính sách tỷ giá, xuất nhập khẩu, thuế quan…); (2) Nguyên nhân từ phía khách hàng, bao gồm các nguyên nhân như: - Khả năng đáp ứng điều kiện cho vay của ngân hàng. Mọi khách hàng muốn tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng đều phải đảm bảo một số điều kiện tiên quyết theo quy định. Quy định này do cơ quan chức năng ban hành và được từng ngân hàng cụ thể hóa trong quy định nội bộ của mình6; - Năng lực sử dụng và quản lý vốn của khách hàng. Khi đồng vốn ra khỏi ngân hàng, việc quản lý đồng vốn đã trở thành việc của cả ngân hàng và khách hàng.
ngân hàng có kiểm soát chặt chẽ đến mức nào cũng không thể theo sát bằng chính những người trực tiếp sử dụng, theo dõi nguồn vốn là khách hàng. Đồng vốn chỉ thực sự sinh lời khi được sử dụng bởi những khách hàng có khả năng sử dụng và quản lý vốn hiệu quả. Điều này góp phần lớn giúp ngân hàng dễ dàng kiểm soát rủi ro sau cho vay; - Đạo đức kinh doanh của khách hàng cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến việc ngân hàng có thu hồi được vốn đầu tư hay không. Ngoài những phương án kinh doanh được lập ra nhằm mục đích sinh lời cho chủ đầu tư, cũng có những dự án lập ra nhằm mục đích lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, hoặc có những trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay có lãi, hoàn toàn có khả năng trả nợ ngân hàng nhưng không có thiện chí trả nợ, chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ như đã cam 6 Chẳng hạn, ở Việt Nam, quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng được quy định tại quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN.
Theo đó, quy định khung để các NHTM xây dựng quy chế cho vay của riêng từng ngân hàng. Tuy nhiên, từ phía khách hàng có thể không đáp ứng được đầy đủ yêu cầu từ phía ngân hàng nhưng lại có động cơ chiếm dụng vốn của nên cố tình lừa đảo, xây dựng hồ sơ khống. Đây chính là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho vay ngay từ khâu thẩm định hồ sơ cho vay của ngân hàng. Trường hợp này xảy ra không nhiều nhưng nếu đã xảy ra sẽ dẫn đến hậu quả không những mất vốn còn đặt ra vấn đề về trách nhiệm pháp lý của NHTM và khách hàng.
(3)Nguyên nhân từ phía ngân hàng, bao gồm các nguyên nhân, như: - Do hạn chế về mặt quản lý mà các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không hợp lý, quá tập trung vào mục tiêu tăng trưởng dư nợ dẫn đến cho vay đầu tư ồ ạt, tập trung nguồn vốn cho vay vào một khách hàng, nhóm khách hàng, một doanh nghiệp hoặc một lĩnh vực ngành nghề. Hành động “bỏ trứng vào một giỏ” khiến cho ngân hàng dễ gặp rủi ro khi có sự biến động kinh tế, rủi ro càng tăng khi khối lượng vốn đầu tư vào cùng một khách hàng càng lớn; - Yếu tố nhân lực ngân hàng mà cụ thể là cán bộ tín dụng, cán bộ trực tiếp tiếp cận, thẩm định và quản lý khoản vay.Yếu tố con người bao gồm cả năng lực trình độ và phẩm chất đạo đức của toàn bộ nhân sự liên quan đến quyết định cho vay, từ cán bộ thẩm định ban đầu đến lãnh đạo ngân hàng đưa ra quyết định cuối cùng về việc có đầu tư vốn cho khách hàng hay không. Ở mọi khâu trong quy trình cho vay, nhất thiết đòi hỏi các cá nhân liên quan bằng trình độ và sự công tâm của mình nhận diện điểm tích cực, hạn chế của dự án để đưa ra quyết định chính xác nhất.