Chương 1: Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái quát về rủi ro tín dụng: 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng: Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra là điều khó tránh khỏi và là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra phá sản ngân hàng. Ngoài ra, rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn xảy ra ở các hoạt động mang tính chất tín dụng khác ngân hàng: các hoạt động cam kết, bảo lãnh, tín dụng thuê mua, cho vay đồng tài trợ … Cụ thể hơn, rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đúng các cam kết như trong hợp đồng đã ký với ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra đều làm cho ngân hàng cho vay bị tổn thất về vốn, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của toàn ngân hàng.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ”. - Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.
Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng: Xem xét những đặc điểm cơ bản của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh 123doc 5 doanh của NHTM có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc xác định, đo lường, và đề ra những biện pháp để hạn chế và quản lý nó. Trên tổng quan, rủi ro tín dụng mang ba đặc điểm: - Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định, chính vì thế trong khoảng thời gian này ngân hàng thường không cập nhật kịp thời những khó khăn và vấn đề mà khách hàng vay vốn đang gặp phải.
Do đó, có thể làm cho ngân hàng bị tổn thất về vốn vay do không thu được nợ vay hay ngân hàng gặp rủi ro về tín dụng. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu nghĩa là luôn gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: Thông tin bất cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay của khách hàng vay vốn, do đó với bất kỳ một khoản cho vay nào của ngân hàng cũng tiềm ẩn những rủi ro. - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng của ngân hàng là trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ.
Đặc điểm này được biểu hiện ở sự đa dạng phức tạp của nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng. Ngoài ra, đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng đối với NHTM càng thể hiện rõ nét.3 Các hình thức của rủi ro tín dụng: - Rủi ro do chậm trả nợ vay: Loại rủi ro này xảy ra khi khách hàng trả nợ chậm trễ so với thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và thường xuất hiện khi khách hàng gặp khó khăn về nguồn vốn tạm thời hoặc xảy ra những tình huống xấu ngoài ý muốn. Trong trường hợp này ngân hàng vẫn có khả năng thu hồi được nợ thông qua các biện pháp gia hạn nợ hoặc cấu trúc lại thời gian trả nợ cho khách hàng vì khách hàng vẫn có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên ngân 123doc 6 hàng nên có những biện pháp giám sát và theo dõi khách hàng cũng như những khoản nợ một cách chặt chẽ để hạn chế rủi ro đến mức tối đa, đó là rủi ro khách hàng không có khả năng trả được nợ.
- Rủi ro do nợ vay không được hoàn trả: Loại rủi ro này có thể gây cho ngân hàng tổn thất lớn, có thể mất toàn bộ hoặc một phần vốn cho vay nếu cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo không đủ để hoàn trả nợ vay. Thông thường xảy ra loại rủi ro này cho ngân hàng khi khách hàng kinh doanh, làm ăn thất bại hoặc không có thiện chí trả nợ và cố tình lừa bịp. Ngân hàng có thể bù đắp khoản nợ này bằng cách phát mãi tài sản đảm bảo cho khoản vay.4 Biểu hiện của ủi o t n dụng: Rủi ro tín dụng thường ẩn chứa trong các khoản vay có vấn đề, không xảy ra theo một mô hình nhất định nào mà diễn ra vô cùng phong phú và phức tạp. Các dấu hiệu để nhận biết rủi ro tín dụng đôi khi phải trải qua một quá trình trong một thời gian dài chứ không hẳn chỉ trong một thời điểm, nó không xảy ra theo một mô hình nhất định nào cả mà rất đa dạng, phong phú.
Do đó, các ngân hàng cần phải nhận biết chúng một cách có hệ thống. - Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng: Biểu hiện của nhóm các dấu hiệu này có thể ở mối quan hệ giữa ngân hàng và người đi vay có chiều hướng xấu, các cuộc tiếp xúc diễn ra không thường xuyên, không bình thường và trong bầu không khí thiếu sự tin cậy, sự hợp tác … điều này có thể báo hiệu một sự suy thoái trong hoạt động kinh doanh của người đi vay. - Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng vay vốn: Trong trường hợp này, khách hàng thường có những biểu hiện sau : + Sự chậm trễ bất thường mà không có lý do chính đáng trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và không trả nợ theo đúng lịch đã định sẵn. Ngoài ra, còn chậm trễ và kéo dài trong việc liên lạc với ngân hàng.
+ Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều 123doc 7 hành. Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích quản trị, điều hành độc đoán hoặc quá phân tán. + Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản, hay mức độ hoạt động. + Cơ cấu lại nợ hay không thanh toán cổ tức, hoặc thay đổi vị trí xếp hạng tín nhiệm.
+ Thay đổi bất thường trong phương pháp hạch toán khấu hao tài sản cố định, giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và số dư trên tiền gửi của khách hàng. + Cách thức hoạch định kinh doanh có vấn đề: được hoạch định hoặc điều hành bởi HĐQT hoặc ban giám đốc ít hoặc không có kinh nghiệm; thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, của chủ nợ. + Quản lý có tính chất gia đình: trong trường hợp này, thường có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người ngoài không thuộc dòng họ; đưa những thành viên trong gia đình yếu kém hoặc không có kinh nghiệm, năng lực quản lý, chưa được đào tạo, huấn luyện vào đảm nhận những vị trí then chốt. + Các chi phí quản lý bất hợp lý: tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, Ban Giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân.5 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng: Một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với một NHTM thì thiệt hại gây ra cho ngân hàng cũng vô cùng lớn, không những ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng mà có thể ảnh hưởng đến khả năng chi trả của ngân hàng cho các khoản tiền gửi đã ký thác, thậm chí nguy hiểm hơn làm ảnh hưởng dây chuyền đến toàn hệ thống ngân hàng.
Do đó, việc tìm hiểu, phân tích nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi một NHTM. Nhóm các nguyên nhân khách quan: Các NHTM cũng là một tổ chức kinh doanh, do đó vẫn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan khác nhau. 123doc 8 - Các yếu tố về điều kiện tự nhiên (thời tiết, khí hậu …): những hiện tượng xấu xảy ra trong tự nhiên như hạn hán, thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn … gây ảnh hưởng rất nặng nề và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như ngân hàng. - Các yếu tố về môi trường kinh doanh: môi trường kinh doanh không ổn định và không thuận lợi, các chính sách quản lý của Nhà nước chưa hoàn thiện … đã làm cho việc hoat động kinh doanh của khách hàng vay vốn bị trở ngại, khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ vay cho ngân hàng.
Ngoài ra, vai trò quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế, công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu kém đã không phát hiện và ngăn chặn được các hành vi lừa đảo. - Các yếu tố khách quan khác: tình hình an ninh, chính trị hoặc khủng hoảng kinh tế trong nước và trong khu vực không ổn định … cũng là một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Nhóm các nguyên nhân từ phía Ngân hàng: - Chính sách tín dụng không hợp lý: chính sách tín dụng có vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của NHTM. Một chính sách tín dụng không hợp lý biểu hiện ở: cơ sở thiết lập cơ cấu tín dụng hợp lý không căn cứ trên cơ cấu kinh tế địa bàn và khả năng nguồn vốn cụ thể của ngân hàng; chính sách lãi suất không linh động, cơ chế giám sát không phù hợp, phương thức kiểm tra không đa dạng … - Quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp: khi xảy ra trường hợp này, không những không phát huy được tác dụng mà còn làm tăng rủi ro tín dụng cho các NHTM.
Một quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp biểu hiện: + Thông tin cần thiết để thực hiện ở các bước trong quy trình không được quy định chặt chẽ và chi tiết.