Chương 1: Cơ sở lý luận về quan tri rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chi nhanh Da Ning - Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chỉ nhánh Đà Nẵng 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo các nghiên cứu đi trước có liên quan, từ đó rút ra định hướng và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với đề tài của mình. Cụ thé: Tác giá Võ Xuân Hoàng với luận văn “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương Quảng Nam” (2011) [6]. Nội dung chính của lý luận của đề tài này là quản trị rủi ro tín dụng với khái niệm, mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng, một số yêu cầu của quản trị rủi ro tín dụng và các biện pháp cơ bản trong quản trị rủi ro tín dụng.
Từ đó tác giả đi phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp cơ bản như: giải pháp về nâng cao năng lực điều hành, giải pháp về nguồn nhân lực và một số giải pháp khác. Hạn chế của luận văn là phạm vi quá rộng nên phần giải pháp chung chung, mang tính định hướng chứ chưa thật cụ thể. Từ luận văn này tác giả có thể kế thừa và ứng dụng linh hoạt vào phân tích rủi ro tín dụng cho một phân khúc khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng Công thương chỉ nhánh Đà Nẵng. Đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại chỉ nhánh Ngân hàng Công thương Đà Nẵng”.
Tác giả Huỳnh Kim Trí, luận văn Thạc sĩ kinh tế trường Đại học kinh tế Đà Nẵng năm 2007 [7]. Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu rủi ro trong kinh doanh NHTM và quản trị rủi ro tín dụng, phân tích hoạt động rủi ro tin dung tại chỉ nhánh Ngân hàng Công thương Đà Nẵng, từ đó đề ra các giải pháp tăng cường năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đà Nẵng. Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp điều tra tổng hợp, phương pháp thống kê, phân tích lập biểu đồ, so sánh. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng công cụ thống kê kết hợp với phương pháp mô phỏng để đưa ra mô hình quản trị rủi ro tín dụng.
Theo tác giả TS. Phạm Thị Giang Thu và ThS. Nguyễn Ngọc Lương [11] trong bài báo: “Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tỗ chức tín dụng” (2012). Bài báo đã nêu lên các hình thức pháp lý của các quy định về phòng ngừa rủi ro tín dụng và nguyên tắc xây dựng các quy định phòng ngừa và xử lý rủi ro.
Từ đó nghiên cứu các tiêu chí để xác lập mức dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro như: tiêu chí tài chính, tiêu chí nhận diện khách hàng, tiêu chí phân loại nợ, các giới hạn cụ thể và các trường hợp không xác định giới hạn. Đây là một gợi ý tốt cho luận văn này nghiên cứu các các yêu cầu triển khai hiệu quả các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lương [§] trong bài báo: “Dấu hiệu nhận biết khoản cho vay c6 van đề, chính sách cho vay kém hiệu quả của ngân hàng và van dé quản trị, xử lý” (2012). Tác giả đã nêu lên các dấu hiệu nhận biết khoản cho Vay có vấn đề và nhận biết chính sách cho vay kém hiệu quả của ngân hàng.
Từ đó, tác giả nghiên cứu đưa ra những biện pháp ngân hàng cần làm đề xử lý các khoản cho vay có vấn đề, các bước trong quá trình khôi phục vốn từ những khoản cho vay có van đề. Đây là một gợi ý để luận văn này đánh giá và nhận diện những khoản vay có van dé tai Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chỉ nhánh Đà Nẵng, kế thừa và phát triển các giải pháp trong bài báo cho phù hợp với ngân hàng mà luận văn này đang nghiên cứu. Theo tác giả Lê Trọng Quý [10] trong đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Chỉ nhánh Ngân hàng TMCP Kỹ thương Đà Nẵng” (2011). Trong phần cơ sở lý luận tác giả đã trình bày đầy đủ về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng.
Luận văn này đã kế thừa được các nghiên cứu về lý luận về rủi ro tín dụng, các nội dung của quản trị rủi ro tín dụng. Tuy nhiên hạn chế của đề tài là do đề tài nghiên cứu ở phương diện rộng nên việc tập trung nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tín dụng còn hạn chế. Tác giả chưa đề cập cụ thể các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng nhu né tranh, han ché, chuyén giao, giam thiểu và các hạn chế này sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong luận văn này. Trên cơ sở các đề tài nghiên cứu trước đây về nội dung quản trị rủi ro tín dụng, đề tài này hệ thống hóa các lý luận về rủi ro tín dụng và nội dung công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp.
Luận văn đi theo hướng hệ thống hóa các lý luận về rủi ro tín dụng và nội dung quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Luận văn đi từ việc phân tích chung về thực trạng hoạt động kinh doanh của Chỉ nhánh, đánh giá thực trạng rủi ro tin dung va quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Chỉ nhánh. Từ đó phân tích rút ra kết luận về những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế. Trên cơ sở đó nghiên cứu đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chỉ nhánh Đà Nẵng.
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu nêu trên, chưa thấy có nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng Khách hàng Doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chi nhánh Da Nẵng. Vì vậy, luận văn sẽ có điểm khác biệt so với những đề tài nghiên cứu trước đây. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI RỦI RO TÍN DỤNG KHACH HANG DOANH NGHIEP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại. Khái niệm Theo các nhà kinh tế học thì sự ra đời của NHTM trong lịch sử là một tất yếu khách quan. Ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện mầm mống sơ khai cho sự ra đời của NHTM, đó chính là hoạt động cho vay nặng lãi. Sau đó nền sản xuất hàng hóa ra đời và khi phát triển đến một mức độ nhất định vào đầu thế kỷ XV thì các NHTM chính thức ra đời và hoạt động trong các lĩnh vực tương tự nhau.
Để tìm kiếm lợi nhuận, các ngân hàng bắt đầu cạnh tranh nhau và trong quá trình cạnh tranh đó, nhiều ngân hàng bị phá sản, bị thôn tính cũng như có nhiều ngân hàng lớn dần lên. Cùng với thời gian, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa ngày càng phức tạp hơn đòi hỏi các NHTM cũng phải có nhiều thay đổi phù hợp hơn để tôn tại. Sự chuyên môn hóa trong lĩnh vực ngân hàng cũng như hậu quả của những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã dẫn đến sự ra đời của Ngân hàng trung ương, điều này đã tách các NHTM ra khỏi chức năng phát hành tiền và thực hiện chuyên sâu vào việc kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác. Từ lúc này, nói đến ngân hàng thường người ta hiểu đó là nói đến các NHTM.
Tóm lại, Ngân hàng hay NHTM là một loại hình tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với hệ thống tài chính nói riêng và với toàn nền kinh tế nói chung của mỗi một quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như thần kinh của cả nền kinh tế. Có nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM tùy theo cách tiếp cận. Tiếp cận theo các loại hình dịch vụ cung cấp, Peter Rose trong cuốn “Quản trị Ngân hàng thương mại” đã định nghĩa “Ngân hàng thương mại là các tổ chức tai chinh cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất — đặc biệt là tin dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Theo Luật các Tổ chức tín dung (công bố ngày 26/12/1997) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004): “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán ”. Như vậy, có thể phân biệt NHTM với các trung gian tài chính khác ở chỗ NHTM là tổ chức kinh tế duy nhất được phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán và làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với rất nhiều hoạt động đa dạng trong đó có ba hoạt động chính đó là: nhận tiền gửi, cho vay, hoạt động đầu tư, và các hoạt động khác. *Nhận tiền gui Nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn của ngân hàng từ những nguồn tiền chưa được sử dụng trong nền kinh tế với cam kết hoàn trả và trả lãi đúng hạn.
Tiền gửi tồn tại ở các dạng: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp. Đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng. * Cho vay Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Hoạt động này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.