Đặt vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu Sau khi gia nhập WTO vào năm 2007 và bắt đầu lộ trình mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam chịu những tác động ngày càng rộng và sâu từ những biến động trong nền kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam ngày càng sâu sắc thì sự chọn lọc và đào thải dựa trên hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh và sức chống đỡ trƣớc khó khăn của doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ trên thị trƣờng ngày càng khốc liệt và rõ rệt. Theo thống kê của Cục quản lý đăng kí kinh doanh, cả nƣớc trong năm 2012 có 39.936 DNVVN ngừng hoạt động, 8.537 doanh nghiệp đã giải thể, chƣa tính đến con số các doanh nghiệp đang đứng trƣớc nguy cơ phá sản, trong đó địa bàn TP. Hồ Chí Minh chiếm 30% trong tổng số.
Trƣớc tình hình vô cùng khó khăn của các doanh nghiệp và áp lực cạnh tranh, tất cả các Tổ chức tín dụng trên cả nƣớc cũng nhƣ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, đều phải đối mặt với RRTD ngày càng tăng cao khi tài trợ vốn, đặc biệt là đối với tín dụng các DNVVN. Bắt đầu hoạt động từ năm 1988 và đi cùng nhiều thời kì thăng trầm của nền kinh tế, Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam, đặc biệt là các Chi nhánh trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh - nơi có tỷ lệ doanh nghiệp bị đào thải khỏi thị trƣờng cao nhất cả nƣớc- đang đứng trƣớc áp lực chung của ngành ngân hàng là phát triển bền vững, lành mạnh trƣớc sức ép cạnh tranh vô cùng lớn giữa các Tổ chức tín dụng trên cùng địa bàn.
Điều đó đi kèm với tăng trƣởng lợi nhuận, mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng phục vụ và giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu. Trong đó, tình hình nợ xấu gia tăng là mối lo ngại lớn nhất của hệ thống Ngân hàng nói chung, của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam và các chi nhánh trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nói riêng. Vì vậy, chú trọng quản trị RRTD ngay từ khâu tiếp xúc và chọn lựa khách hàng là yêu cầu cấp thiết, quan trọng của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam, đặc biệt của các chi nhánh trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh. Đó chính là lý do lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Quản trị RRTD đối 123doc 2 với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” để thực hiện luận văn này. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu thực trạng từ đó đánh giá và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp thu thập số liệu, tổng hợp, phân tích thống kê từ các báo cáo hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thƣơng mại, cũng nhƣ của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Phƣơng pháp phân tích trên cơ sở so sánh sự biến động của các dãy số qua các năm (2007-2012) Phƣơng pháp khảo sát chuyên gia và thống kê mô tả kết quả thu thập đƣợc.
Phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Quản trị RRTD đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, có so sánh với một số ngân hàng thƣơng mại của Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh Kỳ nghiên cứu: Năm 2007 – 2012 Dữ liệu dự kiến: Báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam và một số ngân hàng của Việt Nam từ 2007– 2012, nguồn số liệu nội bộ của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam từ 2007-2012. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa: Nghiên cứu tổng quan về RRTD và quản trị RRTD đối với DNVVN tại các NHTM.
Nêu lên thực trạng quản trị RRTD đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 123doc 3 Ứng dụng các kết quả nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động quản trị rủi tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Kết cấu dự kiến của đề tài Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị RRTD đối với DNVVN của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị RRTD đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị RRTD đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 123doc 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RRTD ĐỐI VỚI DNVVN CỦA NHTM 1. RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra do không thu hồi hoặc thu hồi không đầy đủ đƣợc số vốn ngân hàng và các TCTD đã cấp thông qua hoạt động tín dụng.
Về mặt pháp lý, RRTD đƣợc Ngân hàng nhà nƣớc - Cơ quan chủ quản trực tiếp điều hành hoạt động của ngân hàng và các TCTD tại Việt Nam quy định một cách chặt chẽ hơn thông qua định nghĩa về RRTD tại Thông tƣ 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013 và sẽ áp dụng thay thế Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 (đang hiệu lực) vào 01/06/2014. Đây là tiền đề cho các NHTM có cái nhìn đầy đủ và đƣa ra định hƣớng đúng đắn đối với RRTD. Theo định nghĩa của Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam, RRTD đƣợc xác định là rủi ro mất vốn, lãi hoặc các thu nhập liên quan khác phát sinh từ việc khách hàng hoặc đối tác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã kí với ngân hàng. Về cơ bản, RRTD chủ yếu phát sinh từ các giao dịch nội và ngoại bảng bao gồm hoạt động cấp tín dụng nhƣ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, thấu chi, bao thanh toán và một số hoạt động đầu tƣ và hoạt động kinh doanh có phát sinh RRTD.
Về đặc điểm, RRTD có tính tất yếu, gián tiếp và đa dạng: Tính tất yếu nghĩa là RRTD luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Tính gián tiếp: RRTD xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng do tình trạng bất cân xứng thông tin. Tính đa dạng và phức tạp: đặc điểm này xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân dẫn đến RRTD, những diễn biến và những hậu quả mà RRTD có thể gây ra. Phân loại RRTD Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau.
Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu, tiêu chí phân loại, RRTD có các loại khác nhau. 123doc 5 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD đƣợc phân chia thành các loại: Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD phát sinh từ những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Bao gồm ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro danh mục là một hình thức của RRTD phát sinh từ những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Căn cứ vào tính chất khách quan, chủ quan gây ra rủi ro thì RRTD bao gồm: Rủi ro khách quan: bắt nguồn từ các nguyên nhân khách quan nhƣ thiên tai, biến động kinh tế vĩ mô, luật pháp, ngƣời vay bị chết hoặc mất tích đột ngột và các nguyên nhân ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi ngƣời vay thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ vay vốn của mình. Rủi ro chủ quan: bắt nguồn từ phía ngƣời vay nhƣ cố ý lừa đảo, năng lực điều hành và quản lý doanh nghiệp yếu kém. Bắt nguồn từ phía ngân hàng nhƣ năng lực nhân viên ngân hàng yếu kém, nhân viên ngân hàng cố ý làm trái các quy định về thẩm định và cấp tín dụng, thẩm định và nhận tài sản bảo đảm sai quy định của ngân hàng, cố ý không thực hiện hoặc thực hiện sai trong quản lý khoản vay. Các chỉ số đánh giá RRTD Hệ số nợ quá hạn: Là tỷ lệ phần trăm dƣ nợ ngắn hạn/Tổng dƣ nợ cho vay Nợ quá hạn là những khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn.
Tỷ lệ dự phòng RRTD: Là tỷ lệ phần trăm Dự phòng RRTD đƣợc trích lập/ Tổng dƣ nợ vay Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN: tùy theo số ngày quá hạn, nợ đƣợc phân vào 5 nhóm từ 1 đến 5. Dự phòng RRTD bao gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể. Dự phòng chung là số tiền phải trích lập dự phòng cho toàn bộ giá trị khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5, tỷ lệ trích lập theo quy định là 0. 123doc 6 Dự phòng cụ thể là số tiền phải trích lập dự phòng cho giá trị khoản vay của một khách hàng cụ thể.
Tỷ lệ trích lập dụ phòng cụ thể tùy thuộc vào phân loại nợ của khoản vay. Nợ nhóm 1- Nợ nhóm 2- Nợ nhóm 3- Nợ nhóm 4- Nợ nhóm 5- Nợ đủ tiêu Nợ cần chú Nợ dƣới Nợ nghi ngờ Nợ có khả chuẩn ý tiêu chuẩn năng mất vốn Nợ quá hạn Nợ quá hạn Nợ quá hạn Nợ quá hạn từ Nợ quá hạn dƣới 10 ngày đến 90 ngày từ ngày 91 181 đến 360 trên 360 ngày đến 180 ngày Dự phòng Dự phòng Dự phòng Dự phòng Dự phòng 0% 5% 20% 50% 100% Tỷ lệ nợ xấu: Là tỷ lệ phần trăm dƣ nợ xấu/ Tổng dƣ nợ vay Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN, nợ xấu là nợ đƣợc phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ xấu dƣới 3% có thể coi là ngƣỡng khá tốt, tỷ lệ nợ xấu cho phép là 5%. Tỷ lệ cấp tín dụng xấu: Là tỷ lệ phần trăm Tổng dƣ nợ vay và cam kết ngoại bảng xấu/ Tổng dƣ nợ vay và cam kết ngoại bảng.
Tổng dƣ nợ vay và cam kết ngoại bảng xấu là tổng dƣ nợ vay và cam kết ngoại bảng đƣợc phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5.