phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị RRTD đối với SME của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị RRTD đối với SME của Ngân hàng TMCP Bƣu điện Liên Việt CN Bến Tre Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị RRTD đối với SME của Ngân hàng TMCP Bƣu điện Liên Việt CN Bến Tre 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Hoạt động tín dụng là một hoạt động đầu ra quan trọng của NHTM. Tín dụng NHTM đƣợc hiểu là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng là NHTM chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (DN, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (2010), tại Điều 4, khoản 14, “cấp tín dụng là việc tổ chức tín đụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nhƣ vậy, hoạt động tín dụng của NHTM có thể hiểu là việc NHTM chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng gồm DN, cá nhân trong một khoản thời gian xác định, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
Hoạt động tín dụng của NHTM là hoạt động dựa trên cơ sở của niềm tin, trong đó, NHTM tin tƣởng khách hàng vay sẽ hoàn trả nợ đúng theo thỏa thuận. Tài sản cấp tín dụng của NHTM đa dạng bậc nhất trong nền kinh tế, có thể là tiền, tài sản thực, uy tín. Khi NHTM cấp tín dụng cho khách hàng phải có mục đích sử dụng vốn cụ thể trong thời gian xác định. Việc hoàn trả nợ của ngƣời vay trong tín dụng NHTM áp dụng theo nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện đƣợc thể hiện rõ trong hợp đồng tín dụng và các văn bản pháp lý liên quan.2 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ DN là thành phần quan trọng của nền kinh tế, thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ trên thị trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của các chủ thể 1 với mục tiêu lợi nhuận.
Theo Luật DN 2014, tại Điều 4, khoản 7, “doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Trong phân loại DN, một trong những tiêu chí đƣợc sử dụng phổ biến là phân loại dựa trên quy mô. DN dựa trên quy mô đƣợc phân thành DN lớn, DN vừa và DN nhỏ. Mỗi quốc gia có những quy định khác nhau để phân loại DN tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm kinh doanh của các DN tại quốc gia đó.
Các tiêu chí để phân loại DN bao gồm tiêu chí định tính và tiêu chí định lƣợng. Phần lớn các quốc gia dựa trên các tiêu chí định lƣợng liên quan đến lao động, quy mô vốn, doanh thu. Ví dụ nhƣ tại Liên minh Châu Âu, những DN có số lƣợng nhân viên dƣới 250 ngƣời đƣợc xem là SME. Trong khi đó, tại Mỹ, một SME có số lƣợng nhân viên tối đa lên đến 1.
Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn phát triển mà có những điều chỉnh về tiêu chí phân loại SME. Trong Luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ ban hành vào năm 2017, các tiêu chí để phân loại DN gồm số lao động, vốn hoặc doanh thu và tùy thuộc vào ngành nghề hoạt động. Cụ thể, tiêu chí xác định SME theo quy định của Việt Nam đƣợc trình bày trong bảng 1.1: Tiêu chí xác định SME tại Việt Nam Nguồn: Luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ (2017) Nhƣ vậy, SME có thể hiểu là tổ chức kinh tế thực hiện sản xuất kinh doanh, có tên riêng, tài sản riêng, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và thỏa các điều kiện về số lao động, quy mô vốn hoặc doanh thu theo quy định của pháp luật từng thời kỳ.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ SME, ngoài mang đặc điểm của DN, còn mang những đặc trƣng riêng. Những đặc trƣng này tạo ra ƣu điểm và nhƣợc điểm của các SME trong quá trình hoạt động.
Cụ thể: 1 SME dễ dàng thích nghi với những thay đổi của thị trƣờng. Cơ cấu tổ chức của các SME thƣờng gọn nhẹ, linh hoạt, chủ yếu hoạt động mang tính địa phƣơng nên khả năng chuyển hƣớng kinh doanh là khá nhanh chóng. Khi nhận thức thấy nhu cầu thị trƣờng thay đổi, SME có thể nhanh chóng chuyển đổi để phù hợp với những thay đổi trên thị trƣờng. Điều này giúp SME có thể hoạt động ổn định, đảm bảo đời sống cho ngƣời lao động.
Ngoài ra, cũng do quy mô gọn nhẹ, hoạt động tổ chức sản xuất, công tác quản lý, kiểm tra điều hành đƣợc thực hiện trực tiếp, đảm bảo hạn chế đƣợc hiện tƣợng truyền tin sai lệch, tiết kiệm chi phí quản lý DN. Các SME thƣờng vốn đầu tƣ ban đầu không quá nhiều nên khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh những ƣu điểm kể trên, SME có những hạn chế nhất định. Các SME thƣờng khó tiếp cận nguồn vốn chính thức trên thị trƣờng do thiếu tài sản đảm bảo, phƣơng án kinh doanh thiếu khả thi, hoặc chƣa đủ sức thuyết phục với các chủ nợ là ngân hàng.
Do quy mô vốn nhỏ, các SME thƣờng không thể đầu tƣ mạnh vào công nghệ, máy móc thiết bị phần lớn lạc hậu. Trình độ cán bộ quản lý và nhân viên vẫn còn nhiều hạn chế. Các chủ SME phần lớn chƣa đƣợc đào tạo cơ bản, chủ yếu quản lý dựa trên kinh nghiệm là chủ yếu. Điều này làm cho SME thƣờng không có chiến lƣợc phát triển lâu dài, làm mất đi năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng trong quá trình hội nhập.3 Khái niệm và đặc điểm tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ Tín dụng SME là khái niệm kết hợp giữa khái niệm tín dụng ngân hàng và SME.
Theo đó, tín dụng SME là loại hình tín dụng, theo đó, NHTM chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho ngƣời vay là SME sử dụng trong một khoảng thời gian xác định với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận. Nếu tín dụng ngân hàng áp dụng cho mọi đối tƣợng khách hàng là cá nhân, tổ chức, DN thì tín dụng SME là tín dụng dành cho đối tƣợng khách hàng SME trong nền kinh tế. Do tín dụng SME gắn liền với đối tƣợng khách hàng là SME trong nền kinh tế nên nó có những đặc điểm riêng, ngoài những đặc điểm chung của hoạt động tín dụng ngân hàng. Điều này xuất phát từ đặc điểm của SME trong quá trình vay vốn.
1 Cụ thể: - Quy mô từng khoản vay riêng lẻ của SME đối với ngân hàng là không lớn do nhu cầu vốn của các SME so với các DN lớn là nhỏ hơn. Tuy nhiên, số lƣợng của các SME trong nền kinh tế nhiều nên dƣ nợ nhóm khách hàng SME có thể chiếm tỷ trọng cao trong tổng dƣ nợ của ngân hàng. Xét về tổng thể, quy mô món vay nhỏ, số lƣợng món vay nhiều thì sự phá sản hoặc không trả đƣợc nợ của một SME không tạo ra rủi ro thanh khoản hoặc phá sản của ngân hàng nhƣ các DN lớn. - Mức độ rủi ro của tín dụng SME đƣợc đánh giá là cao hơn so với tín dụng dành cho DN lớn.
Nguyên nhân là do quy mô nhỏ nên bộ máy tổ chức hoạt động thƣờng đơn giản, thiếu chặt chẽ, hoạt động kinh doanh SME thiếu ổn định. Ngoài ra, năng lực quản lý, năng lực sản xuất các SME chƣa cao cũng là yếu tố làm cho mức độ rủi ro trong tín dụng SME cao. Thông tin của các SME trên thị trƣờng cũng hạn chế hơn nhiều so với các DN lớn, làm cho việc đánh giá về SME khó khăn hơn nên mức độ rủi ro trong tín dụng SME cao hơn so với DN lớn. Ngoài ra, trình độ kế toán cũng là một trong những hạn chế của SME gây ảnh hƣởng đến thông tin để ngân hàng đánh giá.
Do đó, các NHTM thƣờng yêu cầu SME phải có tài sản bảo đảm khi vay nhƣ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng nhằm giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra. - Khả năng sinh lời từ tín dụng SME cao. Do khách hàng SME đƣợc đánh giá là có rủi ro cao hơn so với DN lớn nên lãi suất cho vay đối với SME cũng cao hơn so với DN lớn. Vì lãi suất cho vay cao hơn, số lƣợng món vay từ các SME nhiều nên thu nhập từ lãi trong tín dụng SME của các ngân hàng cao.
Bên cạnh đó, NHTM có thể thực hiện bán chéo các sản phẩm, dịch vụ cho SME nhƣ tiền gửi, ngoại tệ, chuyển tiền…làm tăng thu phí. Do đó, việc cho SME vay vốn mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng. - Chi phí bình quân đối với một khoản vay của SME cao hơn so với chi phí bình quân một khoản vay của DN lớn. Điều này là do mặc dù quy mô khoản vay nhỏ nhƣng ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bƣớc theo quy trình tín dụng, phải có đầy đủ các thủ tục, giấy tờ liên quan.
Tuy nhiên, nếu xét về yếu tố thẩm định tín 1 dụng thì thời gian thẩm định có thể ngắn hơn so với khi cho vay DN lớn. Nguyên nhân là do số lƣợng chứng từ nhƣ hợp đồng, hóa đơn phát sinh từ phía SME ít hơn so với DN lớn.2 RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ Tín dụng là hoạt động đặc trƣng và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho NHTM cho nên rủi ro trong hoạt động tín dụng là đặc trƣng nhất và dễ xảy ra nhất bởi liên qua đến những vấn đề nhƣ thông tin về ngƣời vay, khả năng sử dụng vốn của ngƣời vay và khả năng giám sát của NHTM. Đây là mối đe dọa phổ biến đối với ngân hàng. Do đó, khái niệm RRTD là một khái niệm đƣợc nhiều ngƣời quan tâm khi nghiên cứu về ngân hàng.
Chƣa có một định nghĩa thống nhất cho RRTD của NHTM.