CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Khái niệm Tín dụng doanh nghiệp: là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (Ngân hàng Thương mại) chuyển giao một tài sản hoặc vốn cho bên nhận tín dụng (Doanh nghiệp) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khái niệm rủi ro tín dụng: - Theo bộ nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng năm 2000 của Ủy ban Basel (Basel Committee on Banking Supervision): Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận.1 - Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Từ các quan điểm trên về rủi ro tín dụng, ta thấy rủi ro tín dụng doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất cho Ngân hàng Thương mại phát sinh khi Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn nợ gốc, nợ lãi khi đến hạn.
Phân loại rủi ro tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1 BCBS 2000, Principles for the Management of Credit Risk, Switzerland: Bank for International Settlements. 2 Ngân hàng Nhà nước 2013, Thông tư số 02/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 21/01/2013. 2 RỦI RO TÍN DỤNG RỦI RO GIAO DỊCH RỦI RO DANH MỤC RỦI RO RỦI RO RỦI RO RỦI RO LỰA RỦI RO CHỌN ĐỐI BẢO NGHIỆP TẬP NỘI TẠI NGHỊCH ĐẢM VỤ Hình 1.1 Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Phân loại rủi ro tín dụng doanh nghiệp tương ứng với rủi ro tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro, bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục (Quản trị ngân hàng thương mại, Nguyễn Văn Tiến 2013, NXB Thống Kê): Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá doanh nghiệp của NHTM.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn đối nghịch, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. - Rủi ro lựa chọn đối nghịch: là rủi ro xuất phát từ khâu đánh giá khách hàng doanh nghiệp thiếu bao quát, còn nhiều sơ hở; khi NHTM phân tích tín dụng, lựa chọn những phương án vay vốn của doanh nghiệp để ra quyết định cho vay còn lỏng lẻo, qua loa; lựa chọn phương án thu nợ thiếu cân nhắc có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro. - Rủi ro bảo đảm: liên quan đến các yếu tố tạo sự an toàn cho khoản vay của doanh nghiệp, như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, chủ thể đảm bảo, các loại tài sản đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. 2 - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng, kiểm soát trước và sau giải ngân, kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố riêng biệt của từng doanh nghiệp vay vốn, ngành lĩnh vực kinh tế, hoặc mỗi phương thức cấp tín dụng. Rủi ro nội tại xuất phát từ đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp hoặc đặc điểm sử dụng vốn của doanh nghiệp, vì vậy không thể triệt tiêu được rủi ro nội tại. - Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số doanh nghiệp, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc trong cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao (sự thiếu đa dạng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng).
Đây là loại rủi ro gây hậu quả lớn đến sự tồn tại của ngân hàng. Tác động của rủi ro tín dụng doanh nghiệp Tác động đến hoạt động của Ngân hàng thương mại: Rủi ro tín dụng doanh nghiệp được biểu hiện dưới dạng dễ nhận biết nhất là nợ quá hạn xảy ra, Ngân hàng thương mại không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp cho doanh nghiệp và lãi cho vay của khoản vốn đó. Đồng thời, Ngân hàng thương mại phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, dẫn đến chi phí nguồn vốn tăng lên. Rủi ro tín dụng doanh nghiệp của các Ngân hàng thương mại xảy ra ở những mức độ khác nhau, nhẹ thì làm cho Ngân hàng thương mại bị giảm lợi nhuận, nặng thì làm cho Ngân hàng thương mại không thu đủ hoặc mất luôn vốn lãi, dẫn đến Ngân hàng thương mại bị thua lỗ.
Trường hợp doanh nghiệp chậm trễ trong việc trả nợ, sẽ làm kế hoạch sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại bị phá vỡ, có thể làm cho Ngân hàng thương mại gặp rủi ro thanh khoản tạm thời, gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ. 2 Trường hợp doanh nghiệp không thể trả nợ sẽ làm cho Ngân hàng thương mại bị mất vốn, mất chi phí khởi kiện, chi phí thanh lý tài sản đảm bảo. Vấn đề sẽ trở nên nghiệm trọng khi tỷ lệ nợ quá hạn vượt ngưỡng cho phép, lúc này Ngân hàng thương mại sẽ có thể mất khả năng thanh khoản, dẫn đến hiện tượng khách hàng rút tiền hàng loạt gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến Ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống Ngân hàng Việt nam nói chung. Tác động đến nền kinh tế - xã hội: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, khi rủi ro tín dụng doanh nghiệp xảy ra, thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng3.
Khi Ngân hàng thương mại gặp rủi ro tín dụng doanh nghiệp vượt mức cho phép, Ngân hàng thương mại mất khả năng thanh khoản kéo theo toàn bộ hệ thống Ngân hàng bị ảnh hưởng, đồng thời tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Có thể làm cho nền kinh tế bị suy giảm, lạm phát tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Vì vậy, để đảm bảo an toàn bất kỳ Ngân hàng thương mại nào hay cơ quan giám sát ngân hàng của quốc gia nào cũng phải chú ý và đảm bảo thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nói riêng và công tác quản trị rủi ro tín dụng nói chung. Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng doanh nghiệp Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng doanh nghiệp là nợ quá hạn và nợ xấu trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp của NHTM.
Phân loại nợ theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN và các văn bản sửa đổi, bổ sung của Ngân hàng Nhà nước: 3 Nguyễn Đăng Dòn 2010, Quản trị Ngân hàng Thương mại hiện đại, NXB Phương Đông, TP.Hồ Chí Minh, trang 178 2 Nhóm nợ Nội dung Tỷ lệ trích lập dự phòng 1 - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả 0% (Nợ đủ tiêu năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; chuẩn) - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. 2 - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; 5% (Nợ cần - Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng chú ý) là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu). 3 - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; 20% (Nợ dưới - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ tiêu chuẩn) điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2. - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
4 - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; 50% (Nợ nghi - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngờ) ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. 5 - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; 100% (Nợ có khả - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày năng mất trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; vốn) - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. Nợ quá hạn trong hoạt động TDDN phát sinh khi mà đến thời hạn trả nợ theo cam kết, doanh nghiệp không có khả năng trả nợ được một phần hoặc toàn bộ khoản vay 2 cho NHTM, khi đó toàn bộ số dư nợ gốc sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn. Như vậy, mọi khoản vay của doanh nghiệp được coi là nợ quá hạn ngay khi doanh nghiệp đó không thanh toán nợ gốc và lãi đúng thời gian trả nợ theo thỏa thuận4.
Nợ xấu trong hoạt động TDDN là khoản nợ mà doanh nghiệp không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, thuộc các nhóm nợ 3, 4 và 5.