CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CỦA NHTM 1. Cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh của NHTM a. Đặc điểm cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh của NHTM Cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ một năm trở lên, nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất.
Do đó, cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh có những đặc điểm sau: + Vốn cho vay lớn: Việc đầu tư trung dài hạn sản xuất kinh doanh nhằm vào các dự án lớn như xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ… Do đó mà số vốn cần thiết cho mỗi dự án lớn gấp nhiều lần cho vay ngắn hạn. + Thời hạn cho vay dài: Nguồn trả nợ đối với khoản cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh nhìn chung khác với cho vay ngắn hạn. Các khoản cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh được dùng chủ yếu cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên, cho nên nguồn trả nợ chính của khoản vay này là từ nguồn khấu hao và một phần lợi nhuận do dự án mang lại. Toàn bộ vốn cố định tuy tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ chuyển một phần giá trị vào các sản phẩm được sản xuất ra trong suốt quá trình khấu hao.
9 Đối với tài sản lưu động thường xuyên, tính chất thường xuyên thể hiện ở chỗ nguồn vốn để đầu tư vào loại tài sản lưu động này phải được duy trì một cách thường xuyên. Rõ ràng, với tính chất như vậy nguồn vốn để đầu tư phải là nguồn vốn có tính chất dài hạn. + Rủi ro cao: Cho vay trung dài hạn là khoản vay có khối lượng vốn lớn, thời hạn vay dài. Việc sử dụng vốn vay trong quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, sự thay đổi công nghệ và nguyên liệu sản xuất… Tất cả cả yếu tố này có thể gây khó khăn cho việc trả nợ của khách hàng.
+ Lãi suất cao: Lãi suất cho vay, ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc vào cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Mức độ rủi ro càng cao, thời hạn cho vay càng dài thì mức bù rủi ro cho ngân hàng càng lớn, do đó lãi suất càng cao và ngược lại. Ngoài ra, ngân hàng cũng phải tốn nhiều chi phí trong huy động vốn, thẩm định và giám sát khoản cho vay…Chính vì vậy, lãi suất trong cho vay trung dài hạn thường cao hơn so với cho vay ngắn hạn. Phân loại cho vay trung dài hạn sản xuất kinh doanh của NHTM + Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, mục đích của loại cho vay này nhằm để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Tín dụng dài hạn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như các dự án đầu tư có quy mô lớn. 10 - Cho vay theo dự án đầu tư Là khoản cho vay thường được dùng để tài trợ cho việc đầu tư nhà xưởng, máy móc, thiết bị…phục vụ cho việc xây dựng, mở rộng, đầu tư mới, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Thường các nhà kinh doanh yêu cầu được vay một khoản trọn gói dựa trên chi phí dự tính của dự án đã đề xuất và cam kết thanh toán khoản vay thành nhiều lần (vốn gốc được trả thành nhiều phân kỳ trong suốt thời gian vay, lãi suất trả theo dư nợ giảm dần, các khoản thanh toán có thể thực hiện theo quý, thậm chí theo tháng).
- Cho vay luân chuyển Một khoản tín dụng luân chuyển cho phép khách hàng kinh doanh có thể vay tới một mức tối đa xác định trước, hoàn trả toàn bộ hoặc một phần khoản vay, tiếp tục vay khi có nhu cầu cho đến khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Các khoản vay như vậy có thể là ngắn hoặc có thể kéo dài 3, 4 thậm chí 5 năm. - Cho thuê tài chính Dịch vụ cho thuê tài chính là hình thức tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác. Doanh nghiệp được sử dụng tài sản và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời gian đã được thỏa thuận trong hợp đồng thuê.
- Cho vay hợp vốn + Hợp vốn trực tiếp (direct loan syndicated facility) Với loại nghiệp vụ này, sẽ có một số hợp đồng cho vay, trong đó mỗi ngân hàng cho vay sẽ đồng ý cung cấp một khoản vay cùng với các điều kiện và điều khoản như ngân hàng cùng tham gia cho vay khác. Loại vay hợp vốn này khó thực hiện và chưa có quy định tại Việt Nam. + Hợp vốn gián tiếp (participation syndicated facility) 11 Với loại nghiệp vụ này sẽ có một ngân hàng đứng đầu (người dàn xếp hoặc nhiều ngân hàng đứng đầu). Các ngân hàng này sau đó sẽ tiếp xúc với các ngân hàng khác để mời họ cùng tham gia góp vốn theo một tỷ lệ nhất định.
- Cho vay theo hình thức bảo đảm + Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba, thường áp dụng đối với khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao. + Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba, thường áp dụng đối với khách hàng mới, chưa có uy tín. - Cho vay theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh Là khoản cho vay dùng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực thương mại, công nghiệp và nông nghiệp (sản xuất giống trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp). Rủi ro tín dụng trong cho vay của NHTM a.
Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng trong cho vay là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: 12 Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp. Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng, tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành các loại sau: 13 Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh Theo sơ đồ trên rủi ro tín dụng được chia làm hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: + Rủi ro giao dịch (transaction risk): Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá tài sản đảm bảo); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề). + Rủi ro danh mục (portfolio risk): Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.