Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thạch Thất Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thạch Thất. 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về cho vay khách hàng cá nhân và rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Ngân hàng trước tiên là một tổ chức trung gian tài chính, là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, hay nói cách khác là nhà “cung vốn” và nhà “ cầu vốn”, điều này không thể thiếu trong một nền kinh tế lành mạnh, có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững. Hiểu một cách đơn giản ngân hàng là tổ chức hoạt động kinh doanh cung cấp các dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng gồm: tạo lập vốn, sử dụng vốn.
Trong đó, tạo lập vốn được huy động từ vốn tự có, phát hành giấy tờ có giá, vốn vay từ các tổ chức tín dụng và nhận tiền gửi. Nhờ vào số vốn huy động được, ngân hàng sử dụng vốn vào các hoạt động như: trích quỹ đảm bảo an toàn, hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động dịch vụ. Ngoài những hoạt động trên, ngân hàng còn thực hiện các hoạt động khác như: dịch vụ đại lý và uỷ thác, dịch vụ cho thuê tủ két, bảo quản hiện vật quý và giấy tờ có giá, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ…. Trong đó, Luật các Tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành năm 2010, sửa đổi, bổ sung mới nhất năm 2017, có ghi: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”.
Trong đó, thuật ngữ cấp tín dụng được giải thích như sau: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác". Như vậy, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả và có lãi. 7 Đây là mối quan hệ dựa trên việc chuyển giao vốn giữa người dư thừa và người cần vốn, sao cho số vốn được hoàn lại trong một thời gian nhất định luôn lớn hơn số vốn ban đầu. Cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại bao gồm các hình thức cho vay mà ngân hàng cung cấp cho cá nhân hay hộ gia đình nhằm mục đích tiêu d ng đầu tư hay sản xuất kinh doanh.
Nếu phân loại hoạt động cho vay theo đối tượng khách hàng thì hoạt động cho vay bao gồm cho vay doanh nghiệp, cho vay tổ chức tài chính và cho vay khách hàng cá nhân. Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay KHCN nên ta xem xét khái niệm hoạt động này. Cho vay khách hàng cá nhân là quan hệ cho vay mà Ngân hàng thương mại chuyển giao về vốn trong một thời gian nhất định từ Ngân hàng thương mại tới các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm phục vụ mục đích tiêu d ng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh. (Phan Thị Thu Hà, (2007), Ngân hàng thương mại.
NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội) b. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân - Đối tượng cho vay là khách hàng cá nhân có thể là những người buôn bán nhỏ, công nhân viên chức, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ,người sản xuất nhỏ…hoặc là đại diện của hộ gia đình người mà được các thành viên có đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự trong hộ gia đình ủy quyền thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng. Hiện nay, những người có thu nhập cao có nhu cầu vay nhiều hơn so với người có thu nhập thấp, và họ thường vay với nhu cầu cao hơn thu nhập hàng năm của mình để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một sự lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp. - Mục đích đi vay: Mục đích đi vay của KHCN khá đa dạng nhằm đáp ứng các nhu cầu của KHCN như: vay mua sắm, vay du học, vay sản xuất kinh doanh, vay đầu tư… - Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay của NHTM dành cho KHCN thường cao hơn so với lãi suất cho vay dành cho tổ chức.
Bởi, chi phí quản lý khoản vay cá nhân lớn do ngân hàng thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để diều tra, thu 8 thập các thông tin người vay trước khi đưa ra quyết định cho vay. Hơn nữa việc quản lý những khoản tín dụng có giá tri thường nhỏ, số lượng các khoản tín dụng thì lớn không hề đơn giản đối với ngân hàng. Do đó chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cá nhân thường cao hơn so với việc cho vay theo loại hình khác. - Rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân: các khoản tín dụng cá nhân thường tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng do : thông tin cá nhân thường không được cung cấp đầy đủ gây khó khăn cho việc thẩm định và quyết định cho vay đối với khoản tín dụng cá nhân.
Mặt khác, tình hình tài chính của cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng thùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ. Các thông tin tài chính của cá nhân thường không rõ ràng và minh bạch như các báo cáo tài chính được kiểm toán của doanh nghiệp.2 Các hình thức cho vay KHCN * Căn cứ vào thời hạn cho vay: thời gian cho vay có thể là ngắn hạn (thời hạn cho vay từ 12 tháng trở xuống), trung hạn (thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng), dài hạn (từ 60 tháng trở lên). * Căn cứ vào mục đích cho vay Các khoản vay của khách hàng cá nhân bao gồm 2 hình thức: vay tiêu d ng và vay sản xuất kinh doanh. - Vay tiêu d ng: là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây sửa nhà ở, mua phương tiện đi lại, mua sắm vật dụng gia đình, du học chữa bệnh,….
- Vay sản xuất kinh doanh: là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư cá nhân, hộ gia đình bổ sung vốn lưu động, mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán, vàng. * Căn cứ vào phương thức cho vay: Hiện nay các NHTM cho vay có thể thực hiện theo các phương thức sau - Cho vay từng lần: là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. 9 - Cho vay trả góp: khi vay vốn ngân hàng và khách hàng thỏa thuận xác định sổ lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tài khoản khách hàng ph hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: riêng đối với nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh: ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian nhất định được sử dụng khá phổ biến. Vai trò cho vay KHCN Phát triển cho vay khách hàng cá nhân đang là xu hướng tất yếu của các NHTM hiện nay, bởi nó có ý nghĩa lớn không chỉ đối với bản thân ngân hàng, khách hàng mà còn có tầm ảnh hưởng đến cả nền kinh tế đất nước. Xác định rõ điều đó để xây dựng và hoàn thiện những kế hoạch, chính sách phát triển tốt cho loại hình cho vay khách hàng cá nhân đang là thách thức dành cho hệ thống các NHTM. Hiện nay các NHTM đã có định hướng rõ ràng hơn trong việc tập trung đẩy mạnh mảng bán lẻ, đặc biệt là tập trung thị phần trong cho vay cá nhân.
Đây là chiến lược, cũng là bước ngoặt trong thời gian vừa qua. Bởi lẽ, thông qua các tiện ích cung ứng cho KHCN nói chung và cho vay KHCN nói riêng, các NHTM đã thu được nhiều lợi nhuận và gia tăng được thị phần. Thực tế đã chứng minh, NHTM nào cung ứng càng nhiều các tiện ích đến với KHCN càng có số lượng KHCN sử dụng dịch vụ càng lớn, từ đó hoạt động cho vay KHCN cũng phát triển theo. Do đó, mỗi NHTM đều chọn cho mình chiến lược kinh doanh riêng như: hoàn thiện mô hình tổ chức, phong cách và chất lượng phục vụ; thay đổi toàn diện từ nhận thức, tư duy bán hàng, phục vụ khách hàng, c ng với việc đầu tư bài bản về hệ thống cơ sở vật chất, đội ngũ nhân sự, liên tục cải tiến và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ… Ngoài ra, tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN ngày một tăng và vượt qua cho vay các tổ 10 chức, c ng với đó, các khoản cho vay nhỏ lại mang lại lợi nhuận lớn do lãi suất cho vay cao.
Vì vậy, đây là thị trường mà tất cả các NHTM đều mong muốn đạt được.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về rủi ro, đưa ra những khái niệm về nó như: "rủi ro là bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại"; "rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một hay nhiều biến cố không mong đợi";.