CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò trong cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Trong quá trình đổi mới và phát triển hoạt động ngân hàng, cùng với việc thị trường hóa các quan hệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng, nước ta cũng đã từng bước hình thành và phát triển thị trường tiền tệ và thị trường tín dụng. Thị trường tài chính, thị trường tiền tệ nói chung và thị trường tín dụng nói riêng là những tiền đề hết sức quan trọng cho việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế. Khi dịch Covid19 bùng phát, mảng tín dụng cá nhân từng bị co hẹp, song khi kinh tế có dấu hiệu phục hồi, đây là lĩnh vực ưu tiên đẩy mạnh để bù đắp sự suy giảm những tháng đầu năm. Trong tình trạng vốn của ngân hàng dư thừa, còn tín dụng sản xuất, kinh doanh lại tăng chậm, nhiều ngân hàng đang tập trung vào cho vay khách hàng cá nhân, nhất là cho vay mua nhà và mua xe.
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân “ Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một tài khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng”. Mục đích vay của khách hàng cá nhân nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh, mua sắm nhà, xe, trang thiết bị gia đình, đầu tư sản xuất cho các khoản kinh doanh hộ gia đình và chi phí phục vụ cá nhân.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Khách hàng của hoạt động cho vay KHCN là các cá nhân, hộ gia đình những người có mức thu nhập từ trung bình trở lên và ổn định có nhu cầu vay vốn phục vụ 9 cho những mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các khách hàng là các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng và chịu sự ảnh hưởng nhiều bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội.
Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau tùy thuộc và tình hình nền kinh tế, trình độ dân trí, thu nhập, tập quán và thị hiếu tiêu dùng của dân cư. KHCN đến ngân hàng xin vay vốn thường nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của họ, các khoản vay này có thể là vay để mua ô tô, mua nhà hoặc sửa chữa nhà… hoặc vay kinh doanh trên quy mô nhỏ. Quy mô của các hợp đồng cho vay KHCN thường nhỏ hơn nhiều so với số lượng cho vay KHDN là do KHCN vay vốn thường là để đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên quy mô hộ gia đình nên số vốn mà họ xin vay thường không lớn. Thêm vào đó là điều kiện về tài sản đảm bảo của KHCN thường không nhiều và không có giá trị lớn ràng buộc làm cho số vốn NHTM chấp thuận cho KHCN vay không cao như các khoản cho vay KHDN.
Đồng thời khi khách hàng có nhu cầu mua sắm hàng hóa để tiêu dùng, họ thường có xu hướng tiết kiệm từ trước. Họ tìm đến ngân hàng để bù đắp phần thiếu hụt tạm thời. Tuy vậy, số lượng KHCN đến vay vốn tại NHTM lại lớn hơn nhiều lần so với số lượng KHDN, đặc biệt ở các NHTM hoạt động theo hướng là các ngân hàng bán lẻ với số lượng này là rất lớn. Chính vì vậy tổng quy mô cho vay KHCN của NHTM vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng.
Cho vay KHCN là khoản mục cho vay có chi phí cao hơn nhiều so với khoản mục cho vay KHDN do số lượng các khoản cho vay KHCN là rất lớn nhưng quy mô của từng khoản vay thường nhỏ nên các NHTM phải bỏ ra nhiều chi phí ( cả về nhân lực và công cụ) trong việc phát triển khách hàng, lập hồ sơ, thẩm định, xét duyệt, và quản lí các khoản vay… một nguyên nhân khác khiến chi phí của các khoản cho vay KHCN cao là vì hoạt động cho vay KHCN ở nước ta mới được phát triển trong những năm gần đây, nhiều hình thức cho vay còn khá mới mẻ đối với khách hàng. Do đó, các ngân hàng phải tiến hành các chương trình quảng cáo giới 10 thiệu sản phẩm để phát triển khách hàng, mở rộng thị phần, hoạt động này góp phần làm cho chi phí các khoản cho vay KHCN tăng thêm. Các khoản cho vay KHCN thường là những khoản cho vay có độ rủi ro cao đối với ngân hàng vì trong danh mục cho vay KHCN có nhiều sản phẩm cho vay không cần tài sản đảm bảo và nguồn thu nợ chủ yếu của ngân hàng là qua quỹ lương hàng tháng của khách hàng. Tuy nhiên, tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng theo tình trạng công việc, sức khỏe và từ môi trường kinh tế.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ khoa học kĩ thuật và công nghệ lạc hậu do đó rủi ro cao, công việc kinh doanh có thể dễ dàng thất bại, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN thường gặp nhiều khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng, nguồn thông tin do khách hàng cung cấp khó xác định khách hàng không cao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến các quyết định cho vay của ngân hàng. Các khoản cho vay KHCN thường có lãi suất cao hơn so với các khoản cho vay KHDN của NHTM.
Nguyen nhân là do chi phí của việc vay KHCN khá lớn, việc cho vay đối với KHCN chứa đựng rủi ro cao như đã đề cập ở trên. Tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn và tình thức cho vay mà các khoản vay của KHCN có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn. Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh của cá nhân và hộ gia đình do đó thời hạn vay thường là ngắn hạn. Bên cạnh đó, đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình, thời hạn thường là trung hạn và dài hạn tùy thuộc vào khả năng đáp ứng nguồn vốn của ngân hàng và khả năng trả nợ của khách hàng, đối với những khoản vay mua nhà, thời hạn cho vay có thể kéo dài hơn.3 Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Hiện nay sự cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nhất là tại các khu đô thị, nơi tập trung số lượng lớn cavs khách hàng có tiềm lực tài chính lớn và mật 11 độ ngân hàng dày đặc.
Dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng trong mấy năm qua và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, nhiều ngân hàng đã xác định cho mình chiến lược phát triển theo định hướng ngân hàng bán lẻ. Hoạt động cho vay KHCN nói riêng và nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ nói chung sec góp phần làm tăng thị phần của NHTM, đưa hình ảnh của ngân hàng đến với đông đảo đối tượ ng khách hàng, cung cấp cho khách hàng danh mục sản phẩm đa dạng, phục vụ tối đa mọi nhu cầu của khách hàng. Việt Nam có môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, môi trường kinh tế tăng trưởng liên tục và ổn định qua nhiều năm. Sự phát triển của một đời sống kinh tế xã hội và thu nhập tăng cũng dẫn đén những thay đổi trong thói quen tiêu dùng của người dân.
Một trong những thay đổi đáng chú ý là tỷ lệ tiêu dùng của người dân dành cho hoạt động vui chơi giải trí đặc biệt là du lịch có xu hướng tăng lên. Chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện, người tiêu dùng khó tính hơn và có nhu cầu trong cuộc sống cao hơn, đặc biệt là nhu cầu bức xúc về nhà ở, phương tiện đi lại họ sẵn sàng vay để sắm sửa. Do đó, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân sẽ còn tiếp tục tăng trưởng nhanh trong những năm tới. Đối với NHTM, việc mở rộng cho vay KHCN giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với đa dạng khách hàng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, phân tán rủi ro và gia tăng lợi nhuận.
Đối với khách hàng, hoạt động cho vay KHCN của NHTM giải quyết tốt những nhu cầu cấp bách về vốn trong kinh doanh, và nâng cao đời sống của khách hàng, giúp họ được hưởng một mức sống cao hơn dù chưa đủ khả năng chi trả trong hiện tại. Đối với nền kinh tế, cho vay KHCN có tác dụng tích cực trong việc kích cầu tiêu dùng, từ đó tạo nên hiệu ứng kích thích sản xuất phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tê, đảm bảo an sinh xã hội.2 Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản KHCN bao gồm hai hình thức vay: vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh.