CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hoạt động của các NHTM trên thế giới đã phát triển từ rất sớm. Do đó các công trình nghiên cứu lý thuyết, thực tiễn cũng như mô hình thực nghiệm liên quan đến vấn đề quản trị rủi ro tín dụng đã đem lại nhiều lợi ích cho các NHTM trong việc tăng cường năng lực và quản trị RRTD.
Điển hình là hiệp ước vốn Basel I, Basel II, Basel III lần lượt ra đời bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, đây là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, đo lường năng lực và hoạt động quản trị rủi ro của các ngân hàng, TCTD trên thế giới. Đến thời điểm hiện tại, có thể nhận thấy rất nhiều NHTM đã ứng dụng khá toàn diện hiệp ước vốn Basel II vào hoạt động của mình. Với sự phát triển của việc ứng dụng hiệp ước Basel đã nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM trên thế giới. Ngoài nội dung về hiệp ước vốn, một số công trình nghiên cứu nổi bật đem lại nhiều thành tựu như sau: Cuốn “Quản trị rủi ro trong ngân hàng” của Joel Basis xuất bản năm 1998 đã nêu bật lên các khái niệm, lý luận chung về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng nói chung đồng thời cũng đưa ra các mô hình đánh giá rủi ro nói chung, bên cạnh đó cũng đưa ra các khái niệm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng như rủi ro danh mục tín dụng; quản trị danh mục tín dụng; và hệ thống hóa các phương pháp quản trị RRTD, lượng hóa RRTD như hệ thống XHTDNB; mô hình thống kê và chấm điểm; Dữ liệu RRTD.
Cuốn “Credit Risk Measurement” của hai tác giả Anthony Saunders & Linda Allen xuất bản năm 2002 là cuốn sách đề cập chủ yếu về đo lường rủi ro danh mục, một nội dung nằm trong quản trị danh mục tài sản của ngân hàng thương mại. Đặc biệt cuốn sách này tập trung vào phương pháp đo lường rủi ro thông qua các mô hình sử dụng thống kê toán. Hai tác giả đã đi sâu tìm hiểu tính kỹ thuật của các phương pháp, các biến số, sự phụ thuộc các biến số liên quan đến dữ liệu hoạt động tín dụng, 9 nhằm dự báo, tính toán xác suất rủi ro để có những biện pháp chủ động đối phó. Từ đó, cải thiện công tác quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng.
Bài nghiên cứu “VaR và các thiếu hụt dự kiến trong danh mục các rủi ro tín dụng phụ thuộc: lý luận và thực hiện” của Frey, R., and A McNeil năm 2002 đã trình bày rõ nét các khái niệm về rủi ro tín dụng, mô hình về RRTD, các nhân tố và cách tính trong mô hình rủi ro tín dụng cũng như việc xây dựng, ứng dụng mô hình rủi ro tín dụng trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của NHTM.Bratanovic là đồng tác giả cuốn " Phân tích rủi ro ngân hàng, Khung đánh giá công tác quản lý và rủi ro tài chính – Analyzing Banking Risk, A framework for Assessing Corporate Governence and Financial Risk", tái bản lần 3, 2009. Cuốn sách đã cung cấp một cách tổng quan về việc phân tích, đánh giá và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. CácTác giả đã làm rõ nét một số nhân tố đánh giá về chất lượng quản trị rủi ro tín dụng như chất lượng quản trị rủi ro tín dụng theo khoản cấp tín dụng, chất lượng QTRRTD theo danh mục tín dụng, phân tích nhân tố năng lực vốn, tài chính, các tác động của nhân tố này đối với chất lượng QTRRTD của ngân hàng thông qua yêu cầu về vốn quy định chi tiết theo các chuẩn mực Basel II. Tuy nhiên, nội dung đánh giá chất lượng QTRRTD chỉ được nêu một cách khái quát chung với ba nhân tố: quy trình cấp tín dụng, con người và thông tin, chưa có sự đánh giá cụ thể về chính sách chiến lược, cơ sở hạ tầng tin học và các công cụ đo lường rủi ro tín dụng là những thành phần quan trọng khi xây dựng và cải thiện công tác QTRRTD cho các NHTM.
Các nghiên cứu trong nước Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các lãnh đạo ngân hàng. Ở Việt Nam, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về đề tài này. Có thể kể đến một vài nghiên cứu sau: Luận án tiến sỹ kinh tế, “Quản lý rủi ro tín dụng Đầu tư Phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Cảnh Hiệp (2014) đã hệ thống hóa những nét khái quát về quản trị rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của ngân hàng Phát triển cũng như tìm hiểu những kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng của một số 10 nước trên thế giới. Đề tài cũng đã thực hiện tìm hiểu thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của ngân hàng Phát triển Việt nam trong giai đoạn tới.
Luận án tiến sỹ kinh tế, “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại Ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2020) đã hệ thống hóa những nét đặc trưng nhất về cơ sở lý luận và các thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM, nêu ra thực trạng năng lực quản trị RRTD theo thông lệ quốc tế tại các NHTM ở Việt Nam. Luận án khảo sát nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng, mức độ sẵn sàng tiệm cận với các chuẩn mực của Basel II tại nhóm các NHTM chuẩn bị triển khai Basel II tại Việt Nam. Trên cơ sở thực trạng đó, tác giả kiến nghị một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị RRTD theo thông lệ quốc tế tại các NHTM. Tại các cuộc hội thảo khoa học, trong thời gian gần đây, có rất nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro trong đó có QTRRTD tại các NHTM Việt Nam, điển hình như tác giả Nguyễn Thị Mùi với nghiên cứu: "Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay: Những vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị chính sách", 2015, và tác giả Lê Thị Kim Nga với nghiên cứu: "Hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay", 2015.
Cả hai nghiên cứu đề cập đến tổng quan về các NHTM Việt Nam hiện nay, thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng, tình hình tái cơ cấu của hệ thống các NHTM, các ưu điểm, nhược điểm và đưa ra một vài khuyến nghị về chính sách cho các NHTM trong quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam. Rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động phức tạp, không chỉ phụ thuộc vào người cấp tín dụng và người vay mà còn phụ thuộc vào các đối tác khác, môi trường hoạt động, ngành nghề kinh doanh… Do đó, rủi ro tín dụng là rủi ro thường xuyên nhất trong các rủi ro mà các TCTD phải đối mặt. Vì vậy cần phải có cái nhìn tổng quát về loại rủi ro này. Khái niệm Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận là bản chất hoạt động của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là rủi ro chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các loại rủi ro của hoạt động Ngân hàng thương mại, đồng thời là nguyên nhân chủ yếu gây ra tổn thất và ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel thuộc Ngân hàng thanh toán quốc tế: “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Theo Hennie van Greuning – Sonja Brajovic Bratanovic: “RRTD được định nghĩa là nguy cơ người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.
Điều này gây ra sự cố tới dòng chu chuyển tiền tệ và gây ra ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng”. Theo Khoản 1 Điều 2, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của Ngân hàng nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, rủi ro tín dung được định nghĩa như sau: “RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo các định nghĩa trên, tác giả nhận thấy: “RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ nợ đã cam kết. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính đó là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn”.
Phân loại rủ ro tín dụng Có rất nhiều cách thức khác nhau để phân loại rủi ro tín dụng tùy theo mục đích nghiên cứu. Đối với hệ thống NHTM, việc phân chia RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị và điều hành nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân 12 biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp, thẩm định. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng có thể được phân loại như sau: Rủi ro lựa chọn Rủi ro giao dịch Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro tín dụng Rủi ro nội tại Rủi ro danh mục Rủi ro tập trung Hình 1.1 Phân loại RRTD theo tiêu thức rủi ro (Nguồn: Quản trị NHTM, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2011) Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay.