Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tác nghiệp tại NHTM Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng TMCP Nam Á Chương 4 : Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng TMCP Nam Á 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tác nghiệp tại các NHTM 2. Khái niệm về rủi ro tác nghiệp tại các NHTM Theo định nghĩa của Ủy ban Basel và Giám sát ngân hàng trong Hiệp ước vốn mới của Basel (2001), theo đó, rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài gây ra.2 Các loại rủi ro tác nghiệp Theo Ủy ban Basel II, RRTN gồm các nhóm: Rủi ro liên quan đến gian lận và tội phạm nội bộ - Cán bộ ngân hàng tự thực hiện hành vi gian lận , các nghiệp vụ không được ủy quyền hoặc phê duyệt, vượt quá thẩm quyền cho phép; không tuân thủ quy định, quy trình nghiệp vụ của NHTM, NHNN và các văn bản pháp luật hiện hành, vi phạm nội quy cơ quan. RRTN xảy ra khi nhân viên thực hiện nghiệp vụ mà không có sự kiểm tra giám sát từ các cấp có thẩm quyền. - Cán bộ ngân hàng cấu kết với các đối tượng bên ngoài nhằm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, bán thông tin khách hàng cho bên thứ ba.
Các hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Ngân hàng. - RRTN xảy ra khi thiếu sự phân chia trách nhiệm trong cơ chế của NHTM. Mục đích của việc phân chia trách nhiệm là để giảm sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện nghiệp vụ nhằm giảm thiểu hành vi gian lận trong quá trình thực hiện. Việc phân chia trách nhiệm sẽ không có tác dụng nếu có sự thông đồng giữa cán bộ ngân hàng.
Ví dụ cán bộ tín dụng thông đồng với nhau nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay nhằm kiếm thêm thù lao. - Cán bộ ngân hàng còn non về nghiệp vụ hoặc lơ là trong lúc tác nghiệp gây ra RRTN, đơn cử như hạch toán nhầm đơn vị tiền tệ từ VND thành USD thì có thể gây ra tổn thất vô cùng lớn ngân hàng. Rủi ro liên quan đến gian lận và tội phạm bên ngoài 7 - Khách hàng hoặc bên thứ ba cố ý gian lận, biển thủ tài sản, lừa đảo hoặc không tuân thủ quy định của pháp luật. - Khách hàng thực hiện giao dịch với các cá nhân, tổ chức bị cấm vận hoặc có tên trong danh sách bị truy nã, tội phạm.
- Rủi ro do các đối tượng bên ngoài có hành vi trộm cướp, xâm nhập vào hệ thống mạng nội bộ của ngân hàng nhằm đánh cắp dữ liệu, giả mạo giấy tờ về tài sản đảm bảo. + Một ví dụ điển hình là vụ cướp Ngân hàng BIDV- Chi nhánh Ngọc Khánh đã gây thiệt hại cho ngân hàng đến hơn 900 triệu đồng. Sự việc này đã cho thấy sự lỏng lẻo trong công tác đảm bảo an ninh ở các ngân hàng. Rủi ro do quy trình - Quy trình nghiệp vụ của NHTM còn nhiều hạn chế, chưa đủ, chưa chặt chẽ.
Tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây tổn thất cho ngân hàng. Bên cạnh đó, các qui định, quy trình còn nhiều chồng chéo, khó thực hiện, gậy khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong ngân hàng. - Do cơ chế dễ dãi, kiểm soát thiếu chặt chẽ. Mặc dù ngân hàng đã xây dựng hệ thống quy trình, quy định và các chỉ tiêu về đạo đức nghề nghiệp trước khi thực hiện bất cứ nghiệp vụ nào, nhưng việc kiểm tra giảm sát còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ.
Ví dụ nhưng không phê duyệt hạn mức thực hiện giao dịch đối giao dịch viên, kiểm soát viên, hay cho vay khi chưa đủ hồ sơ theo quy định (chứng từ giải ngân không đủ, không đủ cơ sở pháp lý). Rủi ro gây gián đoạn hoạt động kinh doanh - Rủi ro xảy ra chủ yếu do lỗi hệ thống , hệ thống bị hỏng gây nên hoạt động kinh doanh bị gián đoạn. Điển hình là hệ thống CNTT hoạt động không hiệu quả, chất lượng đường truyền kém gây chậm trễ trong quá trình thực hiện việc thanh toán chuyển tiền, thanh toán thẻ cho khách hàng khi mua hàng hóa dịch vụ. Bên cạnh đó, lỗi máy ATM giữ lại thẻ khách hàng cũng gây không ít phiền toái cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ của NHTM.
- Một số hệ thống core- banking của ngân hàng đã lỗi thời, không được đầu tư kỹ lưỡng nên thường xảy ra những sai sót như hạch toán sai tính chất tài khoản, tính 8 sai lãi suất tiết kiệm, không tự cập nhật lãi vay. Trình độ công nghệ ở một số ngân hàng chưa đáp ứng kịp với tốc độ phát triển kinh doanh ở ngân hàng đó, chẳng hạn như có một số ngân hàng thường bị quá tải các giao dịch chuyển tiền qua Internet Banking hay Mobie Banking gây chậm trễ cho việc thanh toán cho khách hàng, hay khách hàng rút tiền ở máy ATM, tiền không nhả ra nhưng tài khoản vẫn bị ghi nợ. Những lỗi trên nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng. Rủi ro do thiệt hại về vật chất, tài sản RRTN do mất mát hoặc hư hỏng tài sản vật chất vì thiên tai hoặc các nguyên nhân khác, nằm ngoài sử kiểm soát của NHTM như thiên tai, hỏa hoạn, động đất, lũ lụt.
Ví dụ như vụ cháy ở tổng kho Sacombank năm 2013 đã thiêu rụi các loại hàng hóa mà công ty thế chấp làm tài sản đảm bảo để vay ngân hàng như hạt nhựa, phân bón, máy móc Rủi ro liên quan đến khách hàng, sản phẩm và các thông lệ kinh doanh Rủi ro phát sinh do không thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng hay sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Chẳng hạn như một số sản phẩm cho vay mua nhà hay thẻ tín dụng có lãi suất và phí quá cao dẫn đến việc khách hàng không hứng thú với những loại sản phẩm này Rủi ro liên quan đến an toàn sức khỏe và các nguyên tắc nơi lao động - Rủi ro phát sinh từ các hành động trái với luật lao động, an toàn sức khỏe, phân biết đối xử nơi công sở. Ví dụ như chính sách sắp xếp, bố trí luân chuyển cán bộ chưa hợp lý gây ức chế cho nhân viên ngân hàng. - Nơi làm việc chưa an toàn dẫn đến phát sinh chi phí bồi thường các khoản tai nạn lao động.
- Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động chưa đúng với người lao động dẫn đến việc mất phí do kiện tụng, tranh chấp.3 Ảnh hưởng của rủi ro tác nghiệp đến các NHTM RRTN không chỉ gây thiệt hại cho lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của NHTM. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì RRTN ngày càng gia tăng do môi trường kinh doanh phức tạp; sự phụ thuộc 9 vào công nghệ nhiều hơn; khối lượng giao dịch ở các ngân hàng ngày càng lớn. Dưới đây là một số ảnh hưởng tiêu cực của RRTN gây ra đối với ngân hàng: - RRTN xuất phát từ trong nội bộ của ngân hàng hay các nhân tố bên ngoài đều có thể gây thiệt hại về vật chất cũng như chi phí để giải quyết những rủi ro đó. RRTN gây thiệt hại khi cán bộ ngân hàng thông đồng lập hồ sơ cho vay khống nhằm chiếm đoạt tiền vay giả mạo chữ ký khách hàng để tất toán chứng chỉ tiền gửi để trục lợi cá nhân; trường hợp bị trộm cướp, kẻ gian đột nhập đánh cắp tiền mặt, giấy tờ có giá, hồ sơ quan trong.
Một số ngân hàng còn bị tổn thất về tài sản do thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh. Ví dụ như dịch bệnh Covid 19 trong năm 2020 đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Bên cạnh đó, RRTN có thể gây ra sai lệch báo cáo tài chính khi TSĐB bị đánh giá sai, trích lập dự phòng không phù hợp và thực hiện các nghiệp vụ kế toán sai nguyên tắc. - RRTN gây ra nhiều vụ kiện tụng, tranh chấp với khách hàng.
RRTN liên quan đến nghiệp vụ tín dụng như đánh giá sai khả năng trả nợ của khách hàng, thẩm định sai giá trị, tính pháp lý của TSĐB, không theo dõi các khoản vay quá hạn của khách hàng hay không công chứng giấy tờ pháp lý liên quan đến TSĐB. Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ hay TSĐB có tranh chấp thì sẽ phát sinh kiện tụng, tranh chấp, gây ảnh hưởng đến thời gian và uy tín của ngân hàng. Ngoài ra, còn có nhiều ngân hàng bị kiện do chậm trễ trong hoạt động thanh toán dẫn đến khách hàng bị chậm trễ trong việc nhận hàng hóa hay bị phạt thêm tiền lãi do thanh toán nợ chậm; cán bộ ngân hàng bán thông tin của khách hàng cho bên thứ ba. - RRTN ảnh hưởng đến hoạt động marketing và bán hàng khi ngân hàng ban hành các sản phẩm mới mà cơ sở hạ tầng không đảm bảo được do các thủ tục phê duyệt sản phẩm mới gặp trục trặc hoặc không được thị trường đón nhận.
Đối với hoạt thanh toán, hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là thanh toán chậm trễ hoặc không thanh toán được theo yêu cầu của khách hàng hoặc đẩy lệnh thanh toán đi trùng 2 lần. - Hệ thống CNTT và cơ sở dữ liệu có thể chịu tổn thất nặng nề bởi RRTN, gây mất quyền kiếm soát hệ thống, dự liệu bị sai lệch, ảnh hưởng rất lớn đến tính bảo mật, an ninh ngân hàng 1 - RRTN ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường làm việc, văn hóa nơi công sở. Việc bổ nhiệm hay thăng tiến cán bộ sai quy định hoặc vi phạm pháp luật trong hợp đồng lao động gây ức chế, mâu thuẫn cho nhân viên có nguy cơ gây ra chống đối, đình công, mất đoàn kết ở đơn vị. Bên cạnh đó, một số trường hợp cán bộ nhân viên lợi dụng sơ hở của đồng nghiệp lấy cắp tài khoản và mật khẩu của đồng nghiệp để thực hiện các giao dịch bất hợp pháp hay nhằm mục đích hãm hại.
Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các NHTM 2.