Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng Quản trị rủi ro lãi suất tại BIDV Thái Hà giai đoạn 2016-2019 Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro lãi suất tại BIDV Thái Hà 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về lãi suất và rủi ro lãi suất 1. Khái quát chung về lãi suất Khái niệm lãi suất: Khi sử dụng bất kì một khoản đi vay nào thì người đi vay cũng phải trả một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu, vì tiền tệ có giá trị về mặt thời gian đồng thời bù đắp chi phí cơ hội cho người vay. Tỉ lệ % của phần tăng thêm này so với vốn gốc vay ban đầu được gọi là lãi suất.
Nói cách khác: “Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn trong một đơn vị thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng hay năm)” (Nguyễn Văn Tiến 2012, tr. Phân loại lãi suất a. Phân theo loại hình tín dụng - Lãi suất tín dụng thương mại được áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. - Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức kinh tế, cá nhân.
Lãi suất này bao gồm lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay, lãi suất chiết khấu. - Lãi suất chỉ đạo là lãi suất NHNN áp dụng đối với thị trường tiền tệ gồm: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu. NHTW các nước thường hình thành một cặp lãi suất tái cấp vốn tạo một khung lãi suất chỉ đạo nhằm kiểm soát và điều tiết sự biến động lãi suất trên thị trường đặc biệt là các mức lãi suất ngắn hạn. - Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho nhau vay trên thị trường tiền tệ.
Phân loại theo giá trị thực của lãi suất - Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu (là lãi suất chưa loại trừ đi tỉ lệ lạm phát ) 5 - Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát ( lãi suất đã được loại trừ đi tỉ lệ lạm phát ) Quan hệ giữa lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa được phản ánh bằng phương trình Fisher: ir = i – п i: lãi suất danh nghĩa. ir : lãi suất thực tế. п : tỉ lệ lạm phát. Phân loại theo tính linh hoạt của lãi suất - Lãi suất cố định: “là lãi suất được qui định cố định trong suốt thời hạn vay.
Nó có ưu điểm là số tiền lãi được cố định và biết trước, nhưng nhược điểm là bị ràng buộc vào một mức lãi suất nhất định trong một khoảng thời gian dù cho lãi suất thị trường thay đổi” (Nguyễn Văn Tiến 2012, tr. 202) - Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi theo lãi suất tham chiếu hoặc theo chỉ số lạm phát. Áp dụng trong các trường hợp lãi suất biến động nhiều, khó dự đoán chính xác được chiều hướng cũng như mức độ biến động lãi suất. Phân loại theo cách đo lƣờng lãi suất - Lãi suất đơn: là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kì hạn vay.
Loại lãi suất này áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn, trả nợ một lần khi đáo hạn. Công thức tinh lãi suất đơn: I = Co × i × n I : số tiền lãi i : Lãi suất Co : vốn gốc n : số thời kì gửi vốn - Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đấu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Áp dung cho các khoản đầu tư có nhiều kì hạn thanh toán trong đó lãi của kì trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kì sau. Ta có: 6 C = Co× ( l + i)n C : Số tiền thu được theo lãi gộp sau n kì.
Co : số vốn gốc ban đầu i : lãi suất đơn. n : số kì gửi vốn - Lãi suất hoàn vốn: Là lãi suất làm cân bằng giá trị hiên tại của số tiền nhập nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay của khoản đầu tư đó. Lãi suất hoàn vốn được xây dựng trên cơ sở khái niệm giá trị hiên tại (giá trị quy về hiện tại của các khoản thu nhập nhận được trong tương lai) n PV : Giá trị hiện tại. PV FV × (1+ i)- n i 1 FV : Các khoản thu nhập trong tương lai.
i : Lãi suất hoàn vốn. n : Số kỳ hạn thanh toán. Một số nội dung cơ bản về rủi ro lãi suất 1. Khái niệm rủi ro lãi suất “Rủi ro có thể được định nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến” (Phan Thị Thu Hà 2009, tr.
Định nghĩa này được sử dụng khá phổ biến trong quản trị kinh doanh của các chủ thể kinh tế, coi rủi ro là những thiệt hại tiềm tàng các chủ thể có khả năng phải gánh chịu. Rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế với mức lợi nhuận dự kiến. Mức độ biến động của lợi nhuận càng lớn thì nguy cơ rủi ro càng cao “Rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động” (Nguyễn Kim Anh 2006, tr. Đây là rủi ro mang tính đặc trưng của bất kỳ một NHTM nào.
Quá trình chuyển hóa tài sản coi là một chức năng đặc biệt của hệ thống ngân hàng. Quá trình chuyển hóa tài sản gồm sử dụng vốn và huy động vốn. Kỳ hạn và mức độ thanh khoản của sử dụng vốn và huy động vốn không cân xứng. Chính sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có 7 và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro lãi suất khi lãi suất trên thị trường biến động.
Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến tình hình của ngân hàng theo hai cách: Cách 1: Dựa vào phân tích bảng cân đối của ngân hàng: bên tài sản nợ gồm các khoản huy động vốn và bên tài sản có chủ yếu gồm các khoản cho vay đầu tư. Khi lãi suất tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng đối với các tài sản nợ và sẽ làm tăng lợi nhuận ngân hàng đối với các tài sản có. Nhưng do các tài sản phản ứng khác nhau đối với biến động lãi suất, nên mức độ biến đổi lợi nhuận của tài sản nợ và tài sản có theo sự biến động của lãi suất là khác nhau. Vì vậy, ngân hàng có nguy cơ gặp rủi ro lãi suất.
Cụ thể hơn ta hãy xem xét bảng cân đối của một ngân hàng: Bên tài sản gồm các tài sản có lãi suất cố định và tài sản có lãi suất thay đổi: + Tài sản có lãi suất cố định là tài sản đem lại thu nhập cố định cho ngân hàng dù lãi suất thị trường thay đổi, các khoản cho vay trung và dài hạn. + Tài sản có lãi suất biển đổi là các tài sản có thu nhập thay đổi khi lãi suất thị trường thay đổi, thường là các khoản cho vay ngắn hạn. Bên nguồn vốn bao gồm nguồn vốn phải trả với lãi suất cố định và nguồn vốn phải trả theo lãi suất thay đổi. Cách 2: Rủi ro do sự không khớp nhau về thời gian sử dụng vốn và nguồn vốn.
Ví dụ 1: Ngân hàng áp dụng lãi suất cố định - Cho vay kỳ hạn 3 tháng với lãi suất cố định. - Huy động kỳ hạn 12 tháng với lãi suất cố định. Trong trường hợp này, ngân hàng có thể gặp rủi ro lãi suất vì sau 3 tháng, ngân hàng phải tiếp tục cho vay theo các điều kiện của thị trường. Khi lãi suất giảm, lãi từ hoạt động cho vay giảm trong khi lãi suất trả cho khoản huy động (huy động 12 tháng với lãi suất cố định) không đổi.
Do đó, lợi nhuận ngân hàng giảm, thậm chí là âm. Hoặc trong trường hợp ngân hàng: - Cho vay 12 tháng với lãi suất cố định. 8 - Huy động kỳ hạn 3 tháng với lãi suất cố định. Sau 3 tháng ngân hàng phải trả khoản huy động đó, và nếu lúc đó lãi suất 3 tháng tăng lên thì lãi suất trả cho khoản huy động tăng lên trong khi lãi suất thu được từ khoản cho vay kỳ hạn 12 tháng không đổi (cho vay kỳ hạn 12 tháng với lãi suất cố định).
Do đó, lợi nhuận ngân hàng giảm đi. Vậy rủi ro lãi suất của ngân hàng là chi phí vốn cao hơn thu nhập từ sử dụng vốn. Do đó, tuỳ theo cơ cấu bảng cân đối và độ nhạy cảm lãi suất giữa sử dụng và nguồn vốn mà lợi nhuận của ngân hàng có thể thay đổi tuỳ thuộc sự biến động của lãi suất. Rủi ro lãi suất là một loại hình rủi ro tiềm tàng và nguy hiểm nhất trong hoạt động quản lý tài sản - nguồn vốn của ngân hàng vì: - Ngân hàng không thể kiểm soát một cách chính xác và kịp thời mức độ và xu hướng biến động của lãi suất.
- Khi lãi suất thị trường thay đổi thì thu nhập của ngân hàng thay đổi do nguồn thu từ cho vay và đẩu tư cũng như chi phí đối với tiền gửi huy động đều bị tác động. Lãi suất thay đổi tác động lên toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập. Vì vậy rủi ro lãi suất liên quan đến nguồn vốn ngân hàng phụ thuộc vào độ nhạy cảm lãi suất của các tài sản được tài trợ bằng các nguồn vốn. Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất: Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất là sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn: - Chênh lệch giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nợ nhạy cảm lãi suất.
- Chênh lệch về kỳ hạn hạn. Sự không phù hợp về kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn trong điều kiện các hợp đồng huy động và tài trợ với lãi suất cố định. Tình trạng này được kết hợp với thay đổi lãi suất ngoài dự kiến trên thị trường làm nảy sinh tổn thất cho NH. Phân loại rủi ro lãi suất Trong hoạt động ngân hàng, lãi suất được ngân hàng chia theo hai loại là lãi suất cố định và lãi suất biến đổi.