Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khuôn khổ lý thuyết Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả Chương 5: Kiến nghị Chương 2: Khuôn khổ lý thuyết 2. Cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro hoạt động: Bảo mật 4 2. Khái niệm rủi ro: Có nhiều cách hiểu cũng như định nghĩa về rủi ro khác nhau của các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu được tiếp cận với những góc độ khác nhau. Theo cách hiểu truyền thống thì rủi ro là khả năng xảy ra những sự cố bất ngờ làm xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính.
Trong kinh doanh ngân hàng thì rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến những tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định. Với những kiến thứ về quản trị rủi ro tài chính đã được học thì rủi ro có thể được hiểu là sự biến động ngoài kỳ vọng của giá tài sản và thu nhập, là sự không chắc chắn về biến cố xảy ra trong tương lai gần kề với thiệt hại. Rủi ro thì có thể đo lường được, nhận diện được, có thể biết được kết quả cuối cùng, có thể quản trị được và kiểm soát được, có thể tối thiểu hóa rủi ro và có thể tính được phân phối xác xuất. Ngoài ra ta có thể phân biệt rủi ro với sự bất định (uncertainty), sự bất định ám chỉ một trạng thái mà ta không biết về tương lai, không biết trước chuyện gì sẽ xảy ra, lời hay lỗ, thắng hay thua, được hay mất.
Sự bất định không đo lường được, không nhận diện được, không biết được kết quả cuối cùng, không quản trị được, không kiểm soát được, không thể tối thiểu hóa rủi ro và không tính được phân phối xác suất. Sự ra đời của Basel để chống lại rủi ro: - Ủy ban Basel được thành lập như là một sự hợp tác của các quốc gia cho phép bảo vệ chống lại những rủi ro nhất định trong hệ thống tài chính toàn cầu, chẳng hạn như rủi ro danh tiếng. Ủy ban chuẩn bị các báo cáo, nguyên tắc hiệp định và mặc dù không có hiệu lực pháp lý nhưng hiệp định muốn khuyến khích chính quyền ở mỗi quốc gia thực hiện các biện pháp được khuyến nghị. Bảo mật 5 - Hiệp định Basel I ra đời năm 1988, có hiệu lực năm 1992, nhằm chống lại rủi ro tín dụng.
Basel I được sửa đổi 1996, liên quan đến rủi ro thị trường. Tuy nhiên, Basel I không ngăn được một số cuộc khủng hoảng dễ bị tổn thương làm giảm niềm tin vào hệ thống, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi, bắt đầu là sự sụp đổ ngân hàng Barings vào năm 1995, đã dẫn đến suy nghĩ phải quản trị rủi ro sẽ tốt hơn. Năm 2004, Basel II được ra đời, đã lấp đầy một số lỗ hổng trong hiệp định trước đó, các quy tắc linh hoạt hơn và đưa ra các khái niệm mới, hiệp định này tìm cách duy trì sự vững chắc của các hệ thống tài chính, tăng mức độ nhạy cảm với hồ sơ rủi ro thực tế của các tổ chức và thừa nhận các khái niệm rủi ro rộng hơn, chẳng hạn như đưa ra khái niệm rủi ro hoạt động. Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng: - Rủi ro tín dụng: là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, có thể là trả chậm, không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng,.
dẫn đến những tổn thất tài chính đối với ngân hàng. - Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, chưa kịp chuyển đổi các tài sản sang tiền, những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng. - Rủi ro thị trường: là rủi ro tổn thất tài sản xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện của thị trường như tỷ giá, lãi suất, giá cả, giá chứng khoán… - Rủi ro hoạt động: Theo Basel II định nghĩa “rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. Định nghĩa bao gồm rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và uy tín.
Rủi ro hoạt động: 2. Nguyên nhân của rủi ro hoạt động: Bảo mật 6 - Rủi ro hoạt động xảy ro do con người: là rủi ro nảy sinh từ lỗi của nhân viên và quan trọng hơn là từ những hành vi gian lận + Nhân viên không tuân thủ những quy trình, quy định của cơ quan, các văn bản pháp luật hiện hành. + Không chấp hành nội quy cơ quan và quy định an toàn nơi làm việc. + Thực hiện các nhiệm vụ không được ủy quyền hoặc thực hiện công việc vượt thẩm quyền cho phép.
+ Có hành vi gian lận nội bộ, cấu kết người bên ngoài lừa đảo, gây thiệt hại cho cơ quan. - Rủi ro hoạt động xảy ra do quy trình: + Xảy ra do sự phức tạp của quy trình, quy trình giao dịch càng nhiều bước, nhiều thời gian thì rủi ro hoạt động càng tăng. + Quy trình chậm thay đổi so với thực tế. + Phân công nhiệm vụ không rõ ràng giữa các phòng ban, dẫn đến việc đùn đẩy trách nhiệm, công việc.
+ Các văn bản hướng dẫn quy trình nghiệp vụ không đồng nhất giữa các cơ quan, dẫn đến cán bộ không biết áp dụng quy trình nào cho đúng. - Rủi ro hoạt động xảy ra do hệ thống công nghệ: trục trặc hệ thống bao gồm những biến cố có thể rất đơn giản như máy chủ bị treo trong thời gian ngắn hoặc có thể toàn mạng lưới bị hỏng phần cứng hoặc phần mềm. + Lỗi vận hành hệ thống + Công nghệ chưa phát triển kịp với quy trình hoạt động của nghiệp vụ. + Lỗ hổng an ninh hệ thống, có thể gây ra bị đánh cắp dữ liệu gây mất mát to lớn cho cơ quan.
- Rủi ro xảy ra do các sự kiện bên ngoài: + Các đơn vị giao dịch làm giả chứng từ, lừa đảo. + Các vấn đề về cơ sở hạ tầng như đường truyền dữ liệu, mất điện,… + Các văn bản, quy định của nhà nước hoặc các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc quy định mới gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan. Bảo mật 7 + Thời tiết, thiên tai hỏa hoạn, khủng bố, chiến tranh… 2. Các loại sự kiện rủi ro hoạt động theo Basel II: - Gian lận nội bộ: Các tổn thất phát sinh từ các hành vi thuộc loại nhằm lừa gạt, chuyển hướng tài sản để lách luật hoặc chính sách của ngân hàng và liên quan đến ít nhất một bên trong nội bộ của tổ chức.
Gồm: + Các hoạt động trái phép như giao dịch không được báo cáo có chủ ý, giao dịch trái phép; + Hoặc các hành vi trộm cắp hoặc gian lận như lừa đảo, gian lận tín dụng, tiền gửi không giá trị, cướp tài sản, tham ô, chiếm đoạt tài sản, phá hoại tài sản, giả mạo, buôn lậu, chiếm đoạt hoặc mạo danh tài khoản, trốn thuế, giao dịch nội gián; - Gian lận từ bên ngoài: Khách hàng hoặc bên thứ ba tổ chức phạm tội lừa đảo hay các tổn thất phát sinh từ các hành vi nhằm lừa gạt hoặc cố ý chiếm đoạt tài sản hoặc không tuân thủ quy định của pháp luật. Gồm: + Trộm cắp và gian lận, giả mạo. + Các hệ thống bảo mật bị xâm nhập và đánh cắp thông tin. - An toàn sức khỏe và các nguyên tắc nơi lao động: Tổn thất từ các hành vi không phù hợp với việc làm, luật pháp hoặc thỏa thuận thương lượng tập thể, sức khỏe và an toàn cũng như thanh toán thương tích cá nhân hoặc phân biệt đối xử.
Gồm: + Quan hệ lao động: bồi thường, lợi ích, các vấn đề chấm dứt, các hoạt động lao động có tổ chức; + An toàn tại nơi làm việc: trách nhiệm, sức khỏe nghề nghiệp, các sự kiện về các quy tắc an toàn và bồi thường lao động; + Phân biệt đối xử bao gồm tất cả các loại phân biệt đối xử; - Khách hàng, sản phẩm dịch vụ và thực tiễn môi trường kinh doanh: Các tổn thất phát sinh do không thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng, sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng nhu cầu khách hàng… Bao gồm: Bảo mật 8 + Sự phù hợp, công khai và đáng tin cậy bao gồm các vi phạm về lòng tin, vi phạm các nguyên tắc, tính thỏa đáng, các vấn đề minh bạch, vi phạm tính minh bạch, lạm dụng thông tin và trách nhiệm của người cho vay; + Thực tiễn môi trường kinh doanh hoặc thị trường bao gồm chống độc quyền, thao túng thị trường, hoạt động không có giấy phép hoặc rửa tiền; + Lỗi của sản phẩm liên quan đến khuyết điểm của sản phẩm + Sự lựa chọn, hỗ trợ và vượt quá giới hạn khi tiếp xúc khách hàng; + Hoạt động tư vấn liên quan đến tranh chấp về hoạt động tư vấn; - Vận hành, phân phối và quy trình: Tổn thất xảy ra do trục trặc trong xử lý giao dịch, quản lý quy trình, phát sinh từ các mối quan hệ với các đối tác, nhà cung cấp. + Nắm bắt giao dịch, thực hiện và bảo trì bao gồm lỗi giao tiếp, lỗi nhập, tải và bảo trì dữ liệu, lỗi giao hàng, các lỗi khác, chẳng hạn như trong quản lý tài sản thế chấp hoặc dữ liệu bảo trì tham chiếu; + Giám sát và báo cáo bao gồm báo cáo bắt buộc không thành công và lỗi trong báo cáo bên ngoài; + Khách hàng mới và chứng từ, hồ sơ: thiếu hồ sơ và sự cho phép của khách hàng và các hồ sơ pháp lý khác bị thiếu; + Quản lý tài khoản khách hàng: xâm nhập trái phép vào tài khoản, đăng ký cho khách hàng không chính xác, làm mất hoặc hư hỏng tài sản của khách hàng; + Người bán và nhà cung cấp liên quan đến tranh chấp với nhà cung cấp; - Gián đoạn hoạt động kinh doanh: Các tổn thất phát sinh do sự gián đoạn hoạt động kinh doanh hoặc hư hỏng các hệ thống như bị gián đoạn phần cứng, phần mềm, viễn thông và dịch vụ.