MỞ ĐẦU Tóm tắt chƣơng 1 Chƣơng 1 giới thiệu mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu và phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng, phạm vi nghiên cứu cũng nhƣ vai trò của ngƣời nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn, từ nghiên cứu về cà phê, đến sở giao dịch hàng hóa và công cụ phái sinh, cũng sẽ đƣợc trình bày tóm tắt trong chƣơng này. Hƣớng nghiên cứu cụ thể của luận văn đƣợc rút ra dựa vào các nghiên cứu đã thực hiện trƣớc đó kết hợp với xem xét tình hình kinh doanh cà phê tại Việt Nam.1 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm giải pháp để cung cấp tín dụng (đầu tƣ trồng, kinh doanh và các khoản ký quỹ) cũng nhƣ quản trị rủi ro giá cho ngành cà phê Việt Nam một cách bền vững bằng các công cụ thị trƣờng, trong bối cảnh tự do hóa thƣơng mại.2 Phƣơng pháp nghiên cứu (Research Methodology) Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính4kết hợp với việc bổ sung thêm một số nguồn số liệu, lấy ý tƣởng từ tác phẩm “Tư duy Kinh tế Việt Nam 1975 – 1989” của tác giả Đặng Phong5. 4 Nghiên cứu định tính là phƣơng pháp sử dụng các câu hỏi, hƣớng mục tiêu vào tập hợp sự hiểu biết sâu về hành vi con ngƣời và lý do chi phối hành vi đó.
Phƣơng pháp định tính thƣờng hƣớng vào câu hỏi tại sao đƣa ra quyết định và đƣa ra bằng cách nào, chứ không chỉ là cái gì, khi nào và ở đâu. Do đó, mẫu nhỏ nhƣng tập trung thì thƣờng cần thiết hơn là mẫu lớn. Phƣơng pháp định tính mang lại thông tin tập trung vào những trƣờng hợp nghiên cứu cụ thể, và bất kỳ kết luận chung nào thì cũng là những thành phần chứ không phải toàn bộ. Phƣơng pháp định tính có thể sử dụng để tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía kinh nghiệm cho giả thuyết nghiên cứu.
Cách tiếp cận định tính có lợi thế là cho phép sự đa dạng hơn trong trả lời cũng nhƣ khả năng đáp ứng với những phát triển hoặc vấn đề mới trong quá trình nghiên cứu. Nghiên cứu định tính có thể tốn kém chi phí và thời gian, nhiều lĩnh vực nghiên cứu sử dụng kỹ thuật định tính đƣợc phát triển riêng biệt nhằm cung cấp kết quả cô đọng, hiệu quả về chi phí và thời gian hơn.org/wiki/Qualitative_research, truy xuất ngày 13/6/2011. 5 Ví dụ 1: Để chứng minh nhận định “Ngay từ năm 1977, đặc biệt là năm 1978, hàng loạt các sự kiện quốc tế, rồi thiên tai, địch họa… đã làm đảo lộn rất nhiều những dự kiến ban đầu của kế hoạch”, Đặng Phong đã sử dụng cách mô tả thực tế tình hình kinh tế những năm 1979-1980 với các sự kiện: Chiến tranh biên giới Tây Nam; Hai trận lũ lớn ở đồng bằng Nam Bộ; và Đầu vào từ các nƣớc xã hôi chủ nghĩa giảm sút đột ngột. Và dùng số liệu khối lƣợng nhập khẩu 1976-1980 bằng hiện vật, GDP 1977-1980, tổng sản phẩm trong nƣớc 1975-1985, tranh ảnh biếm họa, số liệu từ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản… để minh họa mức độ mà các sự kiện đó đã ảnh hƣởng đến kinh tế - xã hội thời kỳ đó nhƣ thế nào.
140 – 157) Ví dụ 2: Với nhận định “cả phong cách sống, làm việc và tư duy của Lê Duẩn đã in dấu ấn đậm nét lên đường lối kinh tế, chính sách kinh tế và thực tiễn kinh tế của Việt Nam trong suốt một phần tư thế kỷ”, Đặng Phong đã: Hỏi ngƣời trong gia đình về thuở thiếu thời, Lê Duẩn nhƣ thế nào; Trong những năm tù ở Côn Đảo, ông đã thể hiện nhƣ một nhà lãnh tụ về tƣ tƣởng ra sao thông qua lời kể của các bạn tù (Trần Văn Giàu, Bùi Công Trừng); và Thời kỳ kháng chiến, các quyết định nào của ông thể hiện phong cách tƣ duy độc lập, sáng tạo… Nghĩa là ở từng giai đoạn, tác giả Đặng Phong liệt kê, tìm hiểu sự kiện và phỏng vấn những ngƣời có liên quan tới nhận định trên về Lê Duẩn với tiêu chí lựa chọn có mục đích – chọn các sự kiện và nhân vật điển hình để chứng minh.3 Phƣơng pháp phân tích (Analysis Methodology) Giải thích các sự việc thông qua việc hiểu các mối quan hệ và cơ chế hoạt động của chúng (critical realism) – đó là phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng trong luận văn.6 6 Theo phƣơng pháp này, thế giới là khách quan, và sự hiểu biết của chúng ta về thế giới có thể chỉ là chủ quan và không hoàn toàn chắc chắn. Kinh nghiệm (Experience): Kinh nghiệm ám chỉ cái mà chúng ta nhìn và trải nghiệm thế giới. Điều này có thể chủ quan và hạn chế. Ta có thể “thấy” mọi vật từ một khía cạnh riêng lẻ hoặc có thể không nhìn thấy tất cả các sự vật.
Ở cấp độ này, chúng ta có thể đang là những nhà duy danh (nominalists) - kinh nghiệm mà chúng ta có chƣa hẳn là hình ảnh trung thực của thực tế. Sự kiện (Events): Sự kiện là những việc xảy ra trong thế giới mà chúng ta nhận thức đƣợc thông qua kinh nghiệm của chúng ta đối với chúng. Chúng là những sự việc xảy ra và đƣợc đề cập đến, và là cấp độ thứ hai của hiện thực. Xem xét ở cấp độ này là chủ nghĩa hiện thực siêu hình (metaphysical realism) với quan điểm cho rằng thế giới bên ngoài có một thực tế vật chất (physical reality).
Cơ chế (Mechanisms): Tuy nhiên, sự kiện không tự nhiên xuất hiện mà không có lý do. Cơ chế là những nguyên nhân của sự kiện và là mức độ thứ ba - mức độ sâu nhất của hiện thực. Nhà chủ nghĩa hiện thực phê phán cho rằng có nhiều cơ chế tồn tại ở cấp độ này. Chúng có thể là, ví dụ, các giả định cấu thành nên cá tính của một ngƣời nào đó, sự mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế hoặc những cƣỡng ép của văn hóa tổ chức.
Các công tắc bật tắt cơ chế này là những kết hợp phức tạp và chúng mang đến cho chúng ta những sự kiện mà chúng ta trải nghiệm. Một đặc điểm chính của các cơ chế này là chúng không thể đƣợc trải nghiệm một cách trực tiếp mà chỉ có thể suy luận một cách logic từ các sự kiện. Cách nhìn nhận nhƣ thế có thể đƣợc xem là duy danh, nhƣng nhà hiện thực biện chứng cho rằng bởi vì chúng là những cơ chế có khả năng tạo ra các sự kiện thực nên chúng cũng là thực. Sự mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy danh và chủ nghĩa hiện thực đƣợc khắc phục ở cấp độ này của hiện thực.
Cấp độ thứ ba là hiện thực “thực” mà những ngƣời nghiên cứu cần phải khám phá ra. Nếu nghiên cứu những trƣờng hợp mâu thuẫn, chúng sẽ dẫn dắt chúng ta đến một sự hiểu biết thực tế sâu hơn – thƣờng đƣợc ẩn giấu từ cách nhìn/quan điểm. Thực tế sâu hơn này là các cơ chế nền tảng (underlying mechanisms) đang gây ra những thay đổi trong xã hội nói chung và trong một tổ chức nói riêng. Những cơ chế nền tảng, theo các nhà tƣ tƣởng theo phƣơng pháp phân tích này, là sự tồn tại có thực và chắc chắn.
Trƣờng phái hiện thực phê phán vì vậy kết hợp sự tin tƣởng các lực lƣợng xã hội thực với sự hiểu biết về bản chất xã hội của ngôn ngữ (vạn vật) mà chúng ta sử dụng khi thảo luận chúng. Ví dụ, trong luận văn này, sự kiện (event) là vận động bà con sử dụng sở giao dịch hàng hóa/sở giao dịch kỳ hạn (commodity/futures exchange), theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thì đây là một mô hình rất tốt; kinh nghiệm (experience) là bà con nông dân, đại lý. thấy toàn các sự kiện phá sản vì sàn, đầu cơ trên sàn nhan nhản trong quá khứ và thế là họ sợ không muốn tham gia. Họ chỉ thấy đƣợc khía cạnh không tốt của sàn.6 Hiểu đƣợc nhƣ vậy thì có thể giải pháp là làm “mẫu”.
Một mô hình “mẫu” – cho mô hình mẫu đó thực hiện các chiến lƣợc quản trị rủi ro có kỷ luật nhằm đảm bảo đƣợc giá cao cho nông dân, thì về sau ngƣời ta tin, rồi sẽ đƣợc bắt chƣớc và nhân rộng. Ngƣời viết chọn các phƣơng pháp phân tích này bởi vì đây là đề tài mang tính gợi mở, kết hợp lý thuyết cho phù hợp với tình hình thực tế. Mà thực tế thì muôn hình vạn trạng, cho nên cần phải hiểu đƣợc những thành phần tham gia, mối quan hệ giữa những ngƣời đó và suy nghĩ, cách hành động, cách họ hiểu về mình và thế giới.4 Phạm vi nghiên cứu Luận văn xem xét ngành cà phê Việt Nam dƣới các khía cạnh: quá trình phát triển của ngành, tập quán kinh doanh, ý kiến của các thành phần trong chuỗi cà phê cũng nhƣ các thành phần có liên quan đến ngành cà phê. Các thành phần phỏng vấn là những ngƣời thuộc cấu trúc kinh doanh cà phê lẫn những ngƣời có liên quan.7 Với câu hỏi phỏng vấn là câu hỏi mở, đƣợc chuẩn bị trƣớc.
Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn và nghiên cứu, phát sinh nhiều vấn đề, các câu hỏi tiếp tục đƣợc đặt ra nhằm làm rõ vấn đề.5 Vai trò của ngƣời nghiên cứu Ngƣời nghiên cứu không tham gia (non-involved) và hữu hình (visible) trong quá trình nghiên cứu – có nghĩa là ngƣời đó đang thực hiện nghiên cứu một/nhiều tổ chức mà ngƣời đó không tham gia vào trừ phi có ai đó cho phép họ tập hợp thông tin cần thiết cho bài nghiên cứu. Lợi thế của vai trò này là ngƣời nghiên cứu không có lý do cá nhân gì để xen vào công việc, nhƣng tiềm ẩn một nguy cơ là những ngƣời đang đƣợc nghiên cứu có thể sử dụng ngƣời nghiên cứu để hỗ trợ họ và/hoặc các dự án của họ trong các hoạt động chính trị của tổ chức. Bất lợi chính là dự án của ngƣời nghiên cứu có thể bị đặt sau các ƣu tiên khác của tổ chức và có thể không đƣợc tiếp cận thông tin cũng nhƣ gặp khó khăn về thời gian hoàn thành.6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn Xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngành cà phê Việt Nam – từ tổng quan ngành cà phê, ảnh hƣởng của ngành cà phê đến ngƣời trồng và nền kinh tế, cho tới các sở giao dịch hàng hóa và các công cụ phái sinh. Các 7 Xem Phụ lục 1 danh sách đối tƣợng phỏng vấn.
19 công trình này đã đóng góp lớn về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn nhƣ sau.