CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DNVVN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cho vay của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm DNVVN Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp đóng vai trò xương sống trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Mỗi nền kinh tế đều tồn tại các loại hình, quy mô doanh nghiệp khác nhau. Nếu xét theo quy mô thì doanh nghiệp được phân chia thành hai loại: Doanh nghiệp có quy mô lớn và DNVVN.
Ở mỗi nền kinh tế khác nhau thì căn cứ xác định DNVVN cũng khác nhau. Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ban hành ngày 12/06/2017, DNVVN bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Căn cứ nghị định số 39/2018/NĐ-CP ban hành ngày 11/03/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiêu chí xác định DNVVN như sau: 9 Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNVVN Lĩnh vực Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa hoạt động siêu nhỏ Số lao động tham gia Số lao động tham gia Số lao động tham gia BHXH bình quân năm: Nông nghiệp, BHXH bình quân BHXH bình quân năm: từ >100 – 200 người lâm nghiệp, năm: ≤ 10 người từ >10 – 100 người Tổng doanh thu của thủy sản, Tổng doanh thu của Tổng doanh thu của năm: từ >50 – 200 tỷ công nghiệp, năm: ≤ 3 tỷ đồng hoặc năm: từ >3 – 50 tỷ đồng đồng hoặc tổng nguồn xây dựng tổng nguồn vốn: ≤ 3 hoặc tổng nguồn vốn: vốn: từ >20 – 100 tỷ tỷ đồng từ >3 – 20 tỷ đồng. Số lao động tham gia Số lao động tham gia Số lao động tham gia BHXH bình quân năm: BHXH bình quân BHXH bình quân năm: từ >50 – 100 người năm: ≤ 10 người từ >10 – 50 người Thương mại, Tổng doanh thu của Tổng doanh thu của Tổng doanh thu của dịch vụ năm: từ >100 – 300 tỷ năm: ≤ 10 tỷ đồng năm: từ >10 – 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn hoặc tổng nguồn vốn: đồng hoặc tổng nguồn vốn: từ >50 – 100 tỷ ≤ 3 tỷ đồng vốn: từ >3 – 50 tỷ đồng.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNVVN còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau: - Thứ nhất, DNVVN có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ.
Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 200 người thì quy mô của DN là tương đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho DNVVN như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh. Những lợi thế 10 này đã tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các DN lớn để lại. Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNVVN bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất.
Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các DN gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn. Vì vậy, các DNVVN phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. - Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú. DNVVN hoạt động dưới nhiều loại hình như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (CT TNHH), công ty cổ phần (CTCP)… trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Nhờ quy mô vừa và nhỏ, có khả năng tận dụng nguồn lao động và nguyên vật liệu tại địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường nên DNVVN phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào việc ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế. Về số lượng, DNVVN hiện đang chiếm khoảng 30% trong số các DN có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng 65% trong số các hợp tác xã và liên hợp tác xã, khoảng 95% trong số các CT TNHH, và đặc biệt chiếm tỷ lệ 99% trong số các DN tư nhân, 65% trong số các DN Nhà nước. Điều đáng lưu ý là gần 100% DN đang hoạt động ở khu vực nông thôn là các DNVVN. - Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế.
Nhiều DNVVN thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của DN; đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Do đó, DNVVN thường có xu hướng đi chệch ra khỏi sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu, thiếu sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý. Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào dây chuyền công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi giúp các DN đẩy mạnh năng lực cạnh tranh. Đối với DNVVN, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất không diễn ra thường xuyên, liên tục dẫn tới tình trạng lạc hậu về công nghệ, chi 11 phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong việc nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ.
- Thứ tư, hoạt động của DNVVN phụ thuộc vào biến động của môi trường xung quanh. Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn cung vốn ít ỏi dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNVVN tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh tại địa phương thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNVVN. Tuy nhiên, DNVVN cũng có lợi thế với quy mô hoạt động của mình khi dễ dàng chuyển hướng kinh doanh sản xuất, tăng giảm nhân công, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các DN lớn.
- Thứ năm, bộ máy điều hành đơn giản, gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị còn hạn chế. Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNVVN tương đối nhỏ gọn, không có quá nhiều các bộ phận trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của DN; các quyết định, các chỉ thị, thông báo. đến với người lao động một cách nhanh chóng, giúp tiết kiệm chi phí quản lý.
Áp dụng mô hình quản lý trực tiếp nên việc ra quyết định thường không gây mất thời gian và hết sức nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định mà thiếu phân tích tình hình thị trường, thiếu đánh giá các nguồn lực tự có… thường dẫn tới rủi ro cho DN nếu quyết định đó không chuẩn xác. Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế rằng: một số ít bộ phận lãnh đạo của các DNVVN không được đào tạo qua các trường lớp chính quy, thiếu những kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh… 1.2 Cho vay khách hàng DNVVN của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm cho vay DNVVN Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 do Quốc Hội ban hành, Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. 12 Như vậy, cho vay DNVVN là hình thức cho vay mà đối tượng khách hàng là DNVVN Bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời có hoàn trả về vốn đều phản ánh quan hệ tín dụng; mối quan hệ tín dụng này được thể hiện dưới các hình thức như: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.
Trong thực tế, cho vay (tín dụng bằng tiền) là hoạt động tín dụng quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được thay thế và đan xen nhau.2 Đặc trưng trong cho vay đối với DNVVN DNVVN đối với nền kinh tế Việt Nam là vô cùng quan trọng, Chính phủ nhận thức được điều này nên đã đưa ra những chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho DNVVN phát triển. Không những chính phủ mà các NHTM cũng xác định DNVVN là khách hàng tiềm năng với nhu cầu vay vốn cao để sản xuất kinh doanh nên các hoạt động cho vay đối với DNVVN cũng được ngân hàng khai thác và đưa vào dịch vụ kinh doanh của Ngân hàng. Hoạt động cho vay đối với DNVVN của NHTM có những đặc trưng sau: - Về quy mô, chi phí thẩm định Về quy mô: Đối với các DNVVN, quy mô các khoản vay thường không lớn, thường phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN, quy mô của các dự án đầu tư hay quy mô các hợp đồng đã ký kết.
Các DNVVN vay vốn với nhiều mục đích nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình kinh doanh. Trong đó DNVVN đi vay để bổ sung vốn lưu động tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong ngắn hạn, vay để thực hiện các dự án đầu tư trong trung dài hạn… thường là các mục đích chính. Về chi phí thẩm định: Chi phí thẩm định đối với DNVVN được đánh giá là cao do khoản vay nhỏ nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng. Ngoài ra, do quy mô khoản vay đối với DNVVN nhỏ, số lượng khoản vay nhiều dẫn đến chi phí xét duyệt, theo dõi khoản vay tính trên một đơn vị tiền vay lớn.