Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Quản trị quan hệ khách hàng của doanh nghiệp. 9 Chương 2: Thực trạng Quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty Điện lực Gia Lai. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện Quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty Điện lực Gia Lai. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Quản trị quan hệ khách hàng 1. Khái niệm khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng chính là nguồn mang lại lợi nhuận, là yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường đều cần phải đáp ứng được nhu cầu, mong muốn của khách hàng, phải tập hợp được khách hàng hiện hữu.
Để đạt được yêu cầu này, việc đầu tiên các doanh nghiệp cần nhận thức rõ: khách hàng là gì? Thực tế, có rất nhiều quan niệm về khách hàng, chẳng hạn như: - Theo quan điểm hiện đại: Khách hàng là những người mà bạn có quan hệ giao dịch kinh doanh. - Theo Philips Kotler (2000), “Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”. - Theo Wikipedia, “Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang hướng các nỗ lực Marketing vào. Họ là người có điều kiện ra quyết định mua sắm.
Khách hàng là đối tượng được thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ”.TS Nguyễn Bách Khoa trong cuốn sách Marketing Thương Mại (2003) – Khách hàng là người mua hiện thực và tiềm năng có nhu cầu về sản phẩm hàng hóa mà công ty kinh doanh trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh. Có thể đưa ra những nhận định về khái niệm trên như sau: Khách hàng của doanh nghiệp phải quan tâm bao gồm cả những KH hiện hữu và KH tiềm năng tìm kiếm cho tương lai. Do vậy KH là mục tiêu tồn tại và phát triển của mỗi DN. Hầu hết các DN đều nhận thấy rằng KH là tài sản quý giá của mình và không ngừng tìm kiếm các giải pháp nhằm thu hút, giữ chân, thỏa mãn KH và phát triển KH trung thành.
Vai trò chính của KH là mua sắm sản phẩm, thông qua việc trả tiền cho sản phẩm họ mua từ đó có khả năng tạo ra lợi nhuận cho DN. 11 Đồng thời KH cũng thể hiện vai trò đánh giá về sản phẩm dịch vụ của DN thông qua sự lựa chọn và những phản hồi của mình. Khái niệm về quản trị quan hệ khách hàng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Quản trị quan hệ khách hàng. Những định nghĩa này có hướng tiếp cận khác nhau nhưng đều tập trung giải thích quy trình và mục tiêu trong việc ứng dụng CRM tại các doanh nghiệp.
Nhằm hiểu rõ hơn về khái niệm này, tác giả xin trình bày quan niệm của các tác giả trên thế giới nghiên cứu về lĩnh vực này: Xem CRM như gói phần mềm, hệ thống hay công nghệ Theo Zikmund và cộng sự ( 2003), CRM là một quá trình thu thập thông tin để tăng hiểu biết về việc quản trị quan hệ của tổ chức với khách hàng của mình… Đó là một chiến lược kinh doanh mà công nghệ thông tin được sử dụng để cung cấp cho doanh nghiệp quan điểm toàn diện, đáng tin cậy, tích hợp với cơ sở khách hàng, qua đó mọi quá trình và những tương tác với khách hàng giúp duy trì và mở rộng quan hệ có lợi cho cả đôi bên. CRM do đó là một kỹ thuật hay một tập hợp các quá trình được thiết kế để thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin hỗ trợ tổ chức đánh giá các tùy chọn chiến lược. Xem CRM là việc lưu trữ và phân tích dữ liệu Theo Hamilton (2001), CRM là quá trình lưu trữ và phân tích một lượng lớn dữ liệu từ bộ phận bán hàng, trung tâm dịch vụ khách hàng, việc mua thực tế, đi sâu và hành vi khách hàng. CRM cũng cho phép doanh nghiệp đối xử khác nhau đối với những dạng khách hàng khác nhau.
Theo Kumar và Reinartz (2006), CRM là việc khai thác và phân tích các cơ sở dữ liệu marketing và sử dụng các công nghệ thông tin nhằm đánh giá tình hình của doanh nghiệp và xác định các phương pháp cho phép cực đại giá trị lâu dài (lifetime value) của từng khách hàng đối với doanh nghiệp. Xem CRM như sự thay đổi văn hóa trong tổ chức Theo Anton và Petouhoff (2002), CRM là sự thay đổi văn hóa đầu tiên, tốt 12 nhất của một tổ chức, chẳng hạn thay đổi cách thức kinh doanh với công nghệ cao tại mỗi điểm tiếp xúc khách hàng. Xem CRM như một hoạt động quản trị tập trung vào các mối quan hệ chứ không phải các giao dịch Theo Swift (2001), Định nghĩa rộng hơn của CRM bao gồm tất cả các hoạt động biến khách hàng ngẫu nhiên thành khách hàng trung thành nhờ làm hài lòng hoặc hơn cả yêu cầu của họ tới mức họ sẽ mua lại. Theo Peppers và Rogers (2004), CRM là quá trình ra các quyết định quản trị với mục tiêu sau cùng là gia tăng giá trị của cơ sở khách hàng thông qua các mối quan hệ tốt hơn với các khách hàng dựa trên cơ sở cá biệt theo khách hàng.
Xem CRM như một hoạt động quản trị nhu cầu Theo Bergeron (2002), CRM là quá trình quản trị năng động mối quan hệ khách hàng-doanh nghiệp để khách hàng quyết định tiếp tục trao đổi thương mại có lợi cho cả đôi bên và ngăn cản họ tham gia vào những trao đổi không sinh lợi cho doanh nghiệp. Xem CRM như một chiến lược tập trung vào khách hàng hiện tại Theo Boddenberg (2001), CRM bao gồm những tiến trình kinh doanh mà tổ chức thực hiện nhằm nhận diện, lựa chọn, thâu tóm, nuôi dưỡng, duy trì và phục vụ khách hàng tốt hơn. Những tiến trình này bao hàm thỏa thuận end-to-end của tổ chức với khách hàng và triển vọng về mối quan hệ với khách hàng qua thời gian. Xem CRM như khả năng tác nghiệp, nhấn mạnh vào quan hệ sinh lợi Theo Kumar và Reinartz (2006), CRM là quá trình chọn lựa những khách hàng mà doanh nghiệp có thể phục vụ một cách sinh lợi nhất và thiết lập những tương tác riêng biệt giữa doanh nghiệp với từng khách hàng.
Theo quan điểm xem CRM là một hệ thống, CRM phải làm tốt ba việc là thu thập dữ liệu khách hàng tại mọi điểm tiếp xúc (qua điện thoại, web, email hay các giao dịch cá nhân), lưu kho dữ liệu để cung cấp dữ liệu theo cách dễ tiếp cận nhất, 13 công bố thông tin được phép sử dụng dựa trên dữ liệu. Bốn thành tố công nghệ một hệ thống CRM cần có sẽ là kho dữ liệu (chứa dữ liệu về khách hàng, hợp đồng, giao dịch, kênh), công cụ phân tích để nhận diện hành vi khách hàng, công cụ quản trị chiến dịch để phát triển, đánh giá hiệu quả marketing và giao diện để duy trì cơ sở dữ liệu. Khi hệ thống CRM thất bại, CRM thiên về yếu tố văn hóa chứ không phải công nghệ. Nhiều doanh nghiệp tập trung vào khía cạnh đối lập với quan hệ (chẳng hạn như giao dịch).
Đây chỉ là quan điểm ngắn hạn, đơn thuần tập trung vào sự trao đổi sản phẩm dịch vụ để thu tiền của doanh nghiệp. Marketing giao dịch xem việc bán là kết thúc của quan hệ còn marketing quan hệ lại xem đó là sự khởi đầu. Theo Kutner và Cripps (1997), CRM được đặt nền tảng dựa trên bốn nguyên lý: (1) khách hàng nên được quản trị như tài sản quan trọng, (2) không phải tất cả các khách hàng đều như nhau, (3) khách hàng khác nhau về nhu cầu, thị hiếu, hành vi mua, (4) hiểu khách hàng tốt hơn giúp doanh nghiệp cung ứng tốt hơn, tối đa hóa toàn bộ giá trị. Doanh nghiệp càng hiểu khách hàng thì càng tăng cơ hội thâm nhập thị trường và tăng phần đóng góp của khách hàng.
Từ việc nghiên cứu các khái niệm về CRM của các nhà nghiên cứu trên, đúc kết và rút được khái niệm như sau: Quản trị quan hệ khách hàng là một quá trình tổng thể của việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ với khách hàng có thể mang lại lợi nhuận cho công ty thông qua việc cung cấp cho khách hàng các giá trị và sự thỏa mãn tốt hơn. Khái niệm này đã bao gồm đầy đủ các thông tin cần thiết, có tầm nhìn rộng, bao quát và hiện đại dựa theo các hoạt động CRM đã được các DN lớn thực hiện. Từ việc xác định rõ khái niệm phù hợp với quan điểm của DN giúp DN có định hướng hoạt động CRM đúng, chính xác và kịp thời. CRM kết hợp tiềm năng của CNTT và các chiến lược marketing quan hệ để mang lại các mối quan hệ lâu dài, có lợi.
Quan trọng hơn, CRM cung cấp các cơ hội nâng cao để sử dụng dữ liệu và thông tin để hiểu khách hàng và thực hiện các chiến lược marketing quan hệ tốt hơn. Điều này đòi hỏi sự tích hợp đa chức năng của con người, hoạt động, quy trình và khả năng marketing được kích hoạt thông qua thông tin, công nghệ và ứng dụng. Vai trò của quản trị quan hệ khách hàng Mục đích căn bản của CRM, cũng giống như hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào, đó là gia tăng lợi nhuận. CRM giúp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh.
CRM không chỉ cải thiện dịch vụ cho khách hàng, hoạt động CRM tốt còn có khả năng giảm chi phí, giảm sự lãng phí, và làm giảm cả những than phiền của khách hàng về sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Hiệu quả của CRM cũng làm giảm căng thẳng cho nhân viên và nhờ đó cải thiện và tăng cường năng suất lao động. CRM cũng giúp doanh nghiệp có được kết quả nghiên cứu thị trường kịp thời, mở ra các kênh thông tin với khách hàng và đảm bảo có được thông tin trực tiếp về thị trường sản phẩm, dịch vụ qua ý kiến phản hồi của khách hàng. Hoạt động CRM tốt cũng giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng trung thành, giảm việc mất khách hàng và thu hút nhiều khách hàng mới hơn từ việc tăng mức độ hài lòng của khách hàng, giảm thiểu xung đột và tạo động lực cho nhân viên.
Nhìn chung, quá trình cung cấp dịch vụ và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có hiệu quả cao hơn.