CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm Quản trị quan hệ khách hàng (CRM) CRM là chữ viết tắt của Customer Relationship Management, thuật ngữ CRM xuất hiện từ đầu những năm 1990 trong giới học thuật và các hãng tư vấn của Mỹ. Gần đây, hầu hết các nhà quản lý thành đạt đều thừa nhận CRM chính là công cụ để chiến thắng trong nền kinh tế định hướng vào khách hàng.
Có nhiều khái niệm khác nhau về CRM, tùy theo từng quan điểm, ngành nghề, từng doanh nghiệp khác nhau: Theo Philip Kotler: “CRM sử dụng công nghệ thông tin để thu thập dữ liệu, sau đó được sử dụng để phát triển nhằm tạo ra sự giao tiếp có tính cá nhân hơn với khách hàng. Trong dài hạn dữ liệu cung cấp một cách thức phân tích và điều chỉnh liên tục nhằm để tăng giá trị cho khách hàng lâu dài với doanh nghiệp”. Theo Kristin và Carol: “Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lược và một quá trình toàn diện nhằm đạt được, duy trì và cộng tác với các khách hàng được lựa chọn nhằm tạo ra giá trị hiệu quả hơn cho công ty và khách hàng. Nó bao gồm sự kết hợp giữa Marketing, bán hàng và dịch vụ khách hàng để đạt được những hiệu quả và hiệu suất cao hơn trong việc phân phối giá trị khách hàng” Theo Dick Lee “CRM là việc thực hiện các chiến lược tập trung vào khách hàng nhằm hướng tới việc thiết kế lại các hoạt động chức năng, và được hỗ trợ bởi công nghệ quản lý quan hệ khách hàng”.
Khái niệm này xem khách hàng là tiêu điểm mà doanh nghiệp hướng tới thực hiện các chiến lược tập trung, nhằm bắt được nhu cầu và sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, qua đó thiết kế lại hoạt động chức năng. Luan van 10 Theo Kristin Anderson và Carol Kerr cho rằng: “CRM là một phương pháp toàn diện để tạo mới, duy trì và mở rộng mối quan hệ khách hàng”. Theo Rayan Crow Cour lại cho rằng: “CRM là một quá trình mà doanh nghiệp sử dụng những kiến thức sâu, rộng về khách hàng được tích luỹ theo thời gian một cách hiệu quả để xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng khách hàng mục tiêu”. Qua các khái niệm đó cho thấy khái niệm “Quản trị quan hệ khách hàng là một phương pháp toàn diện để thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ khách hàng” là một khái niệm bao quát về quản trị quan hệ khách hàng nhất, nó yêu cầu doanh nghiệp phải tính đến tất cả các bộ phận chức năng của mình khi lên kế hoạch CRM, yêu cầu các nguồn lực từ con người, công nghệ,.
ở các bộ phận phải phối hợp với nhau để thực hiện CRM tốt nhất cho doanh nghiệp. Bản chất của CRM Giao tiếp chân thật vì lợi ích của cả hai bên chính là những điều kiện tiên quyết cho sự thành công của một mối quan hệ. Cần phải có mục tiêu chung để tạo ra những cơ hội mới nhằm phát triển mối quan hệ. Mối CRM quan hệ Marketing Giao Truyền thống dịch sản phẩm năng lực Hình 1.
Bản chất của CRM ( Trịnh Quốc Trung (2010), “Marketing Ngân hàng”) Luan van 11 Trong quan hệ khách hàng, năng lực của doanh nghiệp hỗ trợ quá trình tạo ra giá trị cho khách hàng. Theo cách nhìn của CRM, doanh nghiệp và khách hàng cùng nhau tạo ra giá trị. Như vậy, trọng tâm của quan hệ khách hàng liên quan đến một sự chuyển đổi từ quá trình phân phối giá trị sang quá trình tạo lập giá trị. Để đạt được những điều đó, ngân hàng cần xác định đã có những năng lực cốt lõi nào, sức mạnh của ngân hàng thể hiện như thế nào và khả năng doanh nghiệp có thể chuyển những năng lực cốt lõi đó vào điều mà chiến lược CRM hướng đến.
CRM biểu thị một sự chuyển dịch hai chiều: một chiều là sự chuyển dịch từ suy nghĩ “chỉ để giao dịch” sang suy nghĩ “để quan hệ”, và chiều kia là suy nghĩ dựa trên “sản phẩm” sang dựa trên “năng lực”. Hai chiều này được kết nối để mô tả bản chất của CRM. Lợi ích và tầm quan trọng của CRM a. Lợi ích của CRM CRM đã trở thành một chiến lược lãnh đạo doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh cao và cũng có thể được nhìn nhận như những nỗ lực để quản lý sự tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng.
CRM đem lại những lợi ích sau: - Đối với khách hàng: CRM góp phần thúc đẩy mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng, giúp khách hàng hiểu rõ hơn về doanh nghiệp, được phục vụ chu đáo hơn, cảm thấy được quan tâm hơn từ những điều rất nhỏ như: Ngày sinh, sở thích, nhu cầu,… - Đối với doanh nghiệp: CRM giúp doanh nghiệp quản lý khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng, dễ dàng quản lý tình hình kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai. Giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, thương hiệu nhanh chóng dễ dàng và tiết kiệm chi phí. CRM là công cụ hỗ trợ giúp doanh nghiệp quản lý nhân viên Luan van 12 kinh doanh một cách hiệu quả nhất, tập trung nhất. - Đối với nhà quản lý: CRM cung cấp cho nhà quản lý nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực như: Giúp thống kê, phân tích và đánh giá tình hình kinh doanh nhanh nhất; Giúp ngân hàng so sánh tình hình kinh doanh từ quá khứ hiện tại và dự đoán tương lai, ngân hàng dễ dàng phát hiện những khó khăn, những rủi ro tiềm ẩn để kịp thời đưa ra các giải pháp thích hợp.
CRM cũng giúp doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh và hiệu quả công việc của từng nhân viên. - Đối với nhân viên: CRM cho phép nhân viên quản lý thời gian và công việc hiệu quả thông qua việc quản lý và nắm rõ thông tin của từng khách hàng để có thể liên hệ và chăm sóc khách hàng kịp thời, tạo uy tín cho doanh nghiệp và giữ chân khách hàng lâu dài. Tầm quan trọng của CRM Khả năng đáp ứng CRM đáp ứng những thay đổi mà các doanh nghiệp đang đối mặt liên quan đến KH, thị trường, công nghệ lưu trữ dữ liệu, chức năng marketing. - Những thay đổi về khách hàng + Sự thay đổi ngày càng tăng do những khuynh hướng nhân khẩu và hành vi.
+ Khách hàng co hẹp về thời gian và không thích sản phẩm quá phức tạp. + Sự gia tăng về mong đợi của khách hàng và sự suy giảm về mức độ hài lòng của khách hàng. + Khách hàng có nhiều thông tin hơn và trao đổi thông tin lẫn nhau, hiểu biết hơn trong quyết định mua. + Khách hàng so sánh nhiều hơn giữa các nhà cung cấp, các giao dịch.
+ Khách hàng quan tâm các vấn đề xã hội và môi trường xung quanh. + Khách hàng thích có một quan hệ làm ăn lâu dài nhưng suy giảm về Luan van 13 lòng trung thành. - Những thay đổi về thị trường + Sự cạnh tranh khách hàng mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp. + Sự phân hoá của các thị trường.
+ Không tồn tại sự phân biệt dựa vào chất lượng sản phẩm. + Sự lạc hậu nhanh chóng của các sản phẩm. Ngày nay, CRM cần bổ sung giá trị cho các khách hàng bằng việc cung ứng các sản phẩm cá biệt hoá, định hướng chiến lược kinh doanh theo khách hàng để duy trì thị phần. - Những thay đổi về công nghệ lưu trữ dữ liệu + Công nghệ tốt hơn, rẻ hơn và khả năng lưu trữ lớn hơn.
+ Sự gia tăng về nhu cầu lưu trữ dữ liệu. + Sự phổ cập của kho dữ liệu. - Những thay đổi về chức năng marketing + Sự tràn ngập các phương tiện giao tiếp với khách hàng (email, điện thoại, internet, kênh trực tiếp,…). + Các kỹ thuật định giá không còn quan trọng do tồn tại nhiều chương trình KH trung thành, khách hàng có nhiều thông tin về sản phẩm và giá.
+ Tác dụng của quảng cáo trên một số phương tiện giảm. Khả năng nhận biết CRM cho phép nhận biết các khách hàng có lòng trung thành cao cũng như hiệu chỉnh các sản phẩm để tạo lòng trung thành. Khả năng tăng giá trị khách hàng CRM cho phép làm cho khách hàng có giá trị hơn qua việc khách hàng mua nhiều hơn, thường xuyên hơn, nhiều loại sản phẩm hơn. Chi phí tác nghiệp, phục vụ cùng những sai sót trong phục vụ khách hàng cũng giảm.
Bên cạnh đó, sự gia tăng năng suất và sự nhiệt tình của nhân viên phục vụ, giới thiệu của các khách Luan van 14 hàng đã thoả mãn, giảm chi phí truyền thông cổ động. Doanh nghiệp còn có được nhiều thông tin hơn cùng mức giá bán cao hơn có thể chấp nhận. Các yếu tố của quản trị quan hệ khách hàng CRM bao gồm một loạt các hoạt động kinh doanh thuộc ba nhóm chính: marketing, bán hàng và dịch vụ khách hàng. Bên cạnh đó cũng cần phải kể đến yếu tố công nghệ thông tin góp phần phục vụ CRM một cách tốt hơn và hiệu quả hơn.
Marketing Dịch vụ KH Khách hàng Bán hàng Công nghệ Hình 1. Quản trị quan hệ khách hàng Hình 1.2 cho thấy, trung tâm của mô hình CRM chính là khách hàng và bên ngoài là những bộ phận chính tương tác, hỗ trợ nhau trong chiến lược CRM, đó là các bộ phận Marketing, bán hàng, dịch vụ khách hàng và công nghệ. Điều này đã thể hiện vai trò trung tâm của khách hàng, phương châm chiến lược của CRM chính là: “Lấy khách hàng làm trung tâm”. Marketing Trong marketing, CRM được thực hiện chủ yếu nhờ chiến lược marketing trực tiếp với khách hàng.
Đó là một chuỗi các hoạt động kinh doanh được doanh nghiệp tác động đến khách hàng, nhằm xác định, tạo lập và duy trì mối quan hệ làm hài lòng khách hàng mà kết quả là mang lại giá trị Luan van 15 cho cả khách hàng và doanh nghiệp. - Quản trị chiến dịch tiếp thị: Các công cụ giúp lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và đánh giá hiệu quả các chiến dịch quảng cáo. Công cụ này còn giúp xác định các phân khúc thị trường, chọn các mẫu đối tượng, lập kế hoạch đa bước và đa kênh về thông tin quảng bá, theo vết các phản hồi và phân tích kết quả thu được. - E-marketing: là những ứng dụng tạo công cụ tiếp thị trực tuyến thiết yếu trong các hoạt động thương mại điện tử, tiếp thị số hoá trực tiếp và các giao tiếp khác trên Web.