Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế 1.1 Khái niệm thuế Thuế là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính được biết đến gần như cùng một lúc với sự ra đời, tồn tại và phát triển của phạm trù Nhà nước. Từ đó đến nay thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm thuế cũng không ngừng được hoàn thiện [12] Theo Mác thì “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản dể kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”[12] và theo Angghen thì “để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má”[12] Quan niệm về thuế của Mác và Angghen cho thấy hai ông thấy rõ và nhấn mạnh khía cạnh công dụng của thuế khóa.
Còn Lênin thì cho rằng “thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”[18]. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, khái niệm về thuế cũng được dần hoàn chỉnh hơn. Hiện nay, trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”[13] Trên góc độ người nộp thuế thì “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, các nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ 10 của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại” [12] Trên góc độ kinh tế học “Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”[12] 1. Đặc điểm của thuế Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền.
Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngước với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây. Thứ hai, thuế là khoản nộp bắt buộc đƣợc thực hiện thông qua con đƣờng quyền lực. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc. Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thỏa thuận mức đống góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện. Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định. Thuế là khoản thu các định cảu các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Thứ tƣ, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp.
Trái ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Thuế được thu nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cho sự mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, do vậy không có đồi khoản cụ thể. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế.
Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong 11 việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và ưu đãi thuế TNDN, Nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô. Ở Việt Nam, Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Cùng với công cuộc cải cách thuế năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Xét về khía cạnh kinh tế, thu nhập là chỉ một bộ phận tài sản tăng thêm trong một thời gian nhất định.
Tuy nhiên, thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định như: thu nhập của một cá nhân, thu nhập của một doanh nghiệp, thu nhập của một quốc gia. Xét về khía cạnh pháp lý, không phải toàn bộ thu nhập phải chịu thuế mà thu nhập chịu thuế là thu nhập thực tế phát sinh, tức là thu nhập nhận được sau khi đã trừ đi các chi phí. Như vậy, có thể hiểu thu nhập là các khoản tiền hoặc vật chất mà các thể nhân hoặc pháp nhân nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc từ các hành vi hợp pháp khác. 12 Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các tổ chức và cá nhân.
Thuế thu nhập gồm có thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân. Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các doanh nghiệp. Thuế trực thu là loại thuế động viên, điều tiết vào thu nhập của người chịu thuế. Đối tượng nộp thuế phải có thu nhập chịu thuế; thu nhập càng cao thì đóng thuế càng nhiều.
Trong thuế trực thu, người có nghĩa vụ nộp thuế đồngthời là người chịu thuế trên thu nhập mà mình được hưởng. Chính vì vậy, thuế trực thu không được tính vào cơ cấu giá thành hàng hoá dịch vụ và không được trừ vào chi phí khi tính lợi tức chịu thuế (thu nhập chịu thuế) của cơ sở sản xuất kinh doanh. Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh hay nó là loại thuế tính trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ. Bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp Thứ nhất, thuế thu nhập có đối tƣợng đánh thuế là thu nhập [20] Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau, nhưng suy đến cùng thì bất kỳ loại thuế nào cũng đều lấy từ thu nhập của người dân trong xã hội để tập trung vào quỹ NSNN.
Tuy nhiên, không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập. Thuế thu nhập khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ: thuế thu nhập là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh khi có thu nhập chịu thuế phát sinh. Đối với thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng thu nhập của người dân, thông qua việc người dân sử dụng thu nhập để mua hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, phần thu nhập mà Nhà nước lấy đi của họ được cộng vào trong giá bán của hàng hoá, dịch vụ. Vì thế, người chịu thuế, người nộp thuế là không đồng nhất (người 13 tiêu dùng là người chịu thuế, người kinh doanh hàng hoá, cung ứng dịch vụ là người nộp thuế).
Thứ hai, thuế TNDN là thuế trực thu [20], ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với một số khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu điều tiết; Thứ ba, thuế thu nhập là một loại thuế phức tạp [20], có tính ổn định không cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các thuế khác. Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập…Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế; Thứ tƣ, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập bao gồm các văn bản QPPL thuế quốc gia và văn bản QPPL thuế quốc tế [20]. Bởi thuế thu nhập là thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần.