Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH THAY ĐỔI CỦA KURT LEWIN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về quản lý sự thay đổi John P. Cohen (2009) đã khái quát 3 trường phái lý thuyết về quản lý, lãnh đạo gồm trường phái phân tích, trường phái học tập và trường phái quyền lực.
Nghiên cứu những lý thuyết này, các tác giả rút ra nhận xét: lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi được hình thành từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX và là sự kết hợp chặt chẽ của ba trường phái lý thuyết nói trên [19]. Mặc dù là một lý thuyết mới nhưng lý thuyết quản lý sự thay đổi đã khẳng định được giá trị lý luận và thực tiễn của nó, đặc biệt là ở các nước phương Tây và một số nước Đông Nam Châu Á. Ở những quốc gia này, lý thuyết này đã trở thành một trong những nội dung không thể thiếu trong các tài liệu bồi dưỡng về lý thuyết và kỹ năng quản lý cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế đến chính trị, từ quản lý xã hội đến lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực giáo dục. 7 Khi nghiên cứu về lý thuyết và các mô hình quản lý sự thay đổi, Rober Heller đã khẳng định: thích ứng được với hiện tại luôn thay đổi là điều thiết yếu để thành công trong tương lai.
Sự thay đổi ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống, vì vậy việc chủ động nhận biết và có tiếp cận sự thay đổi một cách khoa học chính là cách duy nhất để đảm bảo tương lai, cho dù đó là cá nhân hay tổ chức. Theo đó, kỹ năng nhận biết, hiểu rõ và quản lý được sự thay đổi là một kỹ năng vô cùng quan trọng đối với chủ thể quản lý trong công tác quản lý ngày nay [32]. Rober Heller đã khái quát những vấn đề cơ bản về sự thay đổi, gồm: (i) nguyên nhân của sự thay đổi; (ii) nhận biết nguồn thay đổi; (iii) phân loại sự thay đổi (thay đổi có thể đến từ nhiều hướng, từ cấp trên, từ cấp dưới, từ sáng kiến cá nhân trong tổ chức, từ các đối thủ cạnh tranh hay từ môi trường bên ngoài; thay đổi thuộc loại từ từ hay tức thời. Trên cơ sở đó, tác giả xác định 4 nội dung chính của quản lý sự thay đổi [32] là: - Hiểu biết về sự thay đổi; - Hoạch định sự thay đổi; - Thực hiện sự thay đổi; - Củng cố sự thay đổi.
Mỗi nội dung nêu trên đều được Rober Heller phân tích cụ thể. Chẳng hạn, với nội dung “hoạch định sự thay đổi”, tác giả nhấn mạnh: để các chương trình thay đổi thành công, phải có hoạch định trước, trung, ngắn hạn, dài hạn. Những kế hoạch này phải đảm bảo các yêu cầu: (i) Mục tiêu càng rõ ràng, kế hoạch càng tốt. Nếu người lãnh đạo không biết mình đang đi đâu, họ không thể thực hiện thay đổi để đi đến đó được.
Nếu không biết mình đang ở đâu, họ cũng không thể bắt đầu đi đúng đường được. Cần phải bắt đầu bằng việc xác định các điểm khởi đầu và điểm kết thúc để biết được cần phải thay đổi điều gì. (ii) Xác định nhu cầu thay đổi; Chọn lựa những thay đổi cần thiết; Đánh giá mức độ phức tạp một cách thực tế và xem những ai có thể bị ảnh hưởng 8 trực tiếp hoặc gián tiếp, những ai sẽ tham gia vào thực hiện việc thay đổi và có kế hoạch để lôi kéo họ tham gia. (iii) Chọn khung thời gian thực hiện: Chú ý những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn để hoạch định khung thời gian phù hợp.
(iv) Đưa ra chương trình hành động chi tiết; Dự kiến các kết quả, dự kiến các tình huống có thể xảy ra ngoài kế hoạch, chuẩn bị dự phòng; Dự kiến các phản đối về chương trình thay đổi: dự đoán phản ứng, thảo luận và xây dựng lòng tin. Với bước thực hiện sự thay đổi, Rober Heller xác định các công việc cần triên khai là: (i) Lựa chọn các giải pháp trao đổi khéo léo về chương trình thay đổi cho nhân viên, đưa ra bức tranh toàn cảnh một cách thực tế và khách quan, lôi kéo mọi người tham gia. Việc thông báo kịp thời, đầy đủ thông tin cho nhân viên sẽ hạn chế sự xuất hiện các thông tin xấu, bất lợi cho quá trình thực hiện; (ii) Phân chia trách nhiệm; tạo sự cam kết; (iii) Thay đổi văn hóa tổ chức, nhận biết và xử lý các phản ứng tiêu cực đối với sự thay đổi. Để đảm bảo sự thành công bền vững, cần phải tổ chức các quy trình xem xét và cải thiện thay đổi liên tục; thường xuyên theo dõi tiến độ kế hoạch thực hiện sự thay đổi (đo lường kết quả đạt được, đo lường phản ứng); căn cứ thông tin phản hồi, xem xét lại các giả định (đánh giá lại các mục tiêu, xem xét lại thái độ, sắp xếp lại thứ tự ưu tiên, tránh sự tự mãn); biết cách nuôi dưỡng sự nhiệt tình và duy trì sự thay đổi [32].
Nghiên cứu của Bùi Văn Quân (2020) về lý thuyết quản lý sự thay đổi đã khái quát các luận điểm cơ bản của lý thuyết quản lý sự thay đổi, gồm: (i) Thay đổi là một thuộc tính của tổ chức và môi trường của tổ chức; (ii) Thay đổi là có nguyên nhân và có thể dự báo, nhận biết được; (iii) Có những yếu tố thúc đẩy nhưng cũng có những yếu tố kìm hãm đối với quản lý sự thay đổi; 9 (iv) Quản lý sự thay đổi là một quá trình và được thực hiện bởi những phương pháp xác định [31]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Lê Vũ Hà (2021) đã xác định quy trình quản lý sự thay đổi, gồm: (i) Hoạch định sự thay đổi; (ii) Tổ chức thực hiện sự thay đổi; (iii) Kiểm tra, đánh giá sự thay đổi; (iv) Củng cố, duy trì sự thay đổi [10]. Tác giả Đặng Xuân Hải (2004) đã đưa ra 6 câu hỏi mà theo ông người quản lý sự thay đổi phải tìm được câu trả lời trước khi bắt tay vào quản lý sự thay đổi [15]. Cụ thể là: (i) Cái gì đang/cần thay đổi, kết quả mong đợi là cái gì? (ii) Dự báo trạng thái hiện hành của tổ chức: Tình trạng hiện tại của tổ chức (so với sự thay đổi của bối cảnh) là như thế nào? (iii) Khoảng cách hiện hữu giữa hai trạng thái nêu trên là gì? (iv) Có “năng lượng/sự sẵn sàng” hay “rào cản/chống đối” khi tiến hành sự thay đổi không? (v) Điều người quản lý sự thay đổi mong muốn và khả năng thực hiện là gì? (vi) Tính phù hợp và khả năng hiện thực hóa sự thay đổi? 1.
Nghiên cứu về áp dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi trong quản lý giáo dục, quản lý trường học Nghiên cứu quản lý sự thay đổi trong giáo dục, Rober Heller đã chỉ ra tính cấp thiết của sự thay đổi trường học, các bước tổ chức thực hiện sự thay đổi, mô hình của trường học thành công. Rober Helle cho rằng: “thay đổi là một yếu tố quan trọng liên quan đến sự thành công của các tổ chức. Để tồn tại và phát triển, các tổ chức cần phải nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi” [32, tr 12]. OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) “được thành lập năm 1961, là một diễn đàn dành cho các thanh viên là chính phủ của 38 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thể giới.
Mục đích của OECD là tăng cường hợp tác kinh tế, phối hợp chính sách giữa các nước thành viên về các vấn đề kinh tế thế 10 giới và phát triển” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) đã có kiến nghị về ba giai đoạn khác nhau của quá trình đổi mới/canh tân giáo dục trong nhà trường: “(i) Dẫn nhập canh tân dựa trên sự phân tích nhà trường dẫn đến mô hình quản lý nhà trường: Hiệu trưởng phải tranh thủ sự ủng hộ bên trong và bên ngoài nhà trường, phải kiểm tra lại các nguồn lực của đổi mới. Hiệu trưởng phải tạo được sự nhất trí về nhận thức trong tập thể sư phạm và các lực lượng xã hội ngoài nhà trường về sự cần thiết, mục đích, yêu cầu của sự đổi mới. (ii) Phát động canh tân theo kế hoạch đã vạch ra với các phương tiện có sẵn. Chú ý đến tiềm lực của đội ngũ GV, tiềm lực của các tổ chức, cá nhân bên ngoài nhà trường.
Phát động ý thức trách nhiệm, cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhà trường, góp phần thúc đẩy đổi mới giáo dục có hiệu quả. (iii) Thể chế hóa canh tân là giai đoạn cuối cùng. Những quy định của nhà trường tỏ ra có hiệu lực trong thực tế phải làm cho nó trở thành luật lệ không thể không thực hiện” [ dẫn theo 34]. Nghiên cứu về quản lý sự thay đổi và áp dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi trong quản lý giáo dục ở Việt Nam được quan tâm khi đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới và những thay đổi cơ bản, toàn diện của nền giáo dục nước nhà.
Các chương trình, dự án phán triển giáo dục đều có chuyên đề về quản lý sự thay đổi trong cấu phần đào tạo, bồi dưỡng. Chuyên đề “Quản lý sự thay đổi” được đưa vào chương trình đào tạo cử nhân, đào tạo thạc sĩ chuyên ngành QLGD. Nhiều nghiên cứu về quản lý trường học theo lý thuyết quản lý sự thay đổi được triển khai. Tác giả Đặng Xuân Hải (2005) nghiên cứu ứng dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường [16].
Theo tác giả, để chỉ đạo đổi mới PPDH ở nhà trường có hiệu quả, người lãnh đạo trường học cần nắm vững lý thuyết quản lý sự thay đổi, đặc biệt là việc tìm kiếm câu trả lời cho 6 câu hỏi trước khi thực hành quản lý sự thay đổi [16]. 11 Nghiên cứu của tác giả Trịnh Hồng Ngọc (2020) về Quản lý sự thay đổi trong trường học: xu hướng, thách thức và giải pháp đã xác định những thay đổi trong trường học [28], gồm: - (i) sự thay đổi về các nguồn lực trong nhà trường; - (ii) sự thay đổi về các hoạt động chuyên môn; - (iii) sự thay đổi về học sinh; và - (iv) sự thay đổi về văn hóa nhà trường. Từ những thay đổi này, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để quản lý sự thay đổi trong trường học.