ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng là loại ung thư phổ biến thứ ba trên thế giới, chiếm khoảng 10% số lượng người mắc bệnh ung thư và cũng là nguyên nhân thứ hai gây tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới [1]. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2022, trên thế giới có khoảng 1,9 triệu ca mắc mới và hơn 880.000 ca tử vong do ung thư đại trực tràng [2]. Theo ước tính, đến năm 2040, gánh nặng ung thư đại trực tràng sẽ tăng lên 3,2 triệu ca mắc mới mỗi năm (tăng 63%) và 1,6 triệu ca tử vong mỗi năm (tăng 73%) [1]. Tại Việt Nam, năm 2022, số lượng bệnh nhân mắc mới và tử vong do ung thư đại trực tràng lần lượt là 16.
Một trong những phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng là thuốc điều trị ung thư, bên cạnh các phương pháp phẫu thuật, xạ trị và có thể kết hợp với nhau trong liệu pháp đa mô thức. Tuy nhiên, hiệu quả của thuốc điều trị ung thư phụ thuộc vào các yếu tố thuộc về người bệnh và yếu tố thuộc về thuốc như phác đồ điều trị, liều lượng, cách dùng, đường dùng của thuốc điều trị ung thư. Mặt khác, thuốc điều trị ung thư đa phần là các thuốc gây độc tế bào, có khoảng điều trị hẹp, độc tính cao, giá thành đắt. Do đó, thuốc điều trị ung thư phải được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả và an toàn.
Tại Việt Nam, một số văn bản quy phạm pháp luật như Luật Dược số 105/2016/QH13, Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm của Bộ Y tế và mới đây nhất Nghị định 131/2020/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định và hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện [4], [5]. Một trong những hoạt động dược lâm sàng là xem xét các thuốc được kê đơn cho người bệnh trong quá trình đi buồng bệnh hoặc xem xét y lệnh trong hồ sơ bệnh án, thẩm định y lệnh để phát hiện các vấn đề liên quan đến thuốc nhằm ngăn ngừa các sai sót, nhầm lẫn có thể xảy ra, từ đó cải thiện chất lượng kê đơn. Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng nhằm phát hiện, phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc. Nghiên cứu tại Ethiopia năm 2023 cho thấy, các vấn đề liên quan đến thuốc gặp ở 53,1% số bệnh nhân ung thư đại trực tràng.
Trong đó, các vấn đề liên quan đến thuốc thường gặp là thiếu điều trị bằng thuốc (29,6%), liều thấp (22,0%), tương tác thuốc (18,3%) và phản ứng có hại của thuốc (18,3%) [6]. Tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng về các vấn đề liên quan đến 1 thuốc, đa số nghiên cứu mô tả thực trạng dùng thuốc hoặc ghi nhận các phản ứng có hại của thuốc [7], [8], [9]. Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai là một trong những đơn vị hoàn chỉnh, đầu ngành cả nước điều trị bệnh nhân ung thư. Tại Trung tâm, hoạt động dược lâm sàng được chú trọng và được thực hiện theo Nghị định 131/2020/NĐ-CP của Chính phủ.
Tuy nhiên, đội ngũ dược sĩ làm công tác dược lâm sàng tại Trung tâm YHHN & UB còn mỏng, hoạt động chủ yếu tập trung vào việc thẩm định y lệnh, rà soát đơn thuốc trên phần mềm kê đơn và cung cấp thông tin thuốc cho nhân viên y tế. Trong khi đó, bệnh án điện tử thiếu nhiều thông tin về người bệnh và sử dụng thuốc gây khó khăn cho việc thẩm định y lệnh. Hơn nữa, nghiên cứu gần đây cho thấy, một số hoạt chất ĐTUT có trị giá lượng thừa cao nhất bao gồm oxaliplatin, thường được sử dụng trong điều trị ung thư ĐTT, có tỷ lệ chênh lệch về chi phí giữa lượng cấp phát và sử dụng thực tế, chiếm 12,3% [10]. Do vậy, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dược lâm sàng và góp phần cải tiến chất lượng kê đơn trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng, đề tài “Triển khai hoạt động dược lâm sàng trong quản lý các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc điều trị ung thư đại trực tràng tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai” được thực hiện nhằm hai mục tiêu sau: 1.
Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc điều trị ung thư đại trực tràng tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu giai đoạn tháng 02/2023. Phân tích kết quả hoạt động dược lâm sàng trong quản lý các vấn đề liên quan đến thuốc điều trị ung thư đại trực tràng tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu. Kết quả của đề tài hy vọng cung cấp được đầy đủ thông tin về các vấn đề liên quan đến thuốc điều trị ung thư đại trực tràng trong quá trình kê đơn và phân tích kết quả hoạt động dược lâm sàng trong việc khắc phục, giảm thiểu các vấn đề liên quan đến thuốc. Từ đó góp phần đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, hiệu quả, an toàn trên người bệnh.
Tổng quan về bệnh ung thư đại trực tràng 1. Khái niệm Ung thư đại trực tràng là một loại ung thư ảnh hưởng đến đại tràng (ruột già) hoặc trực tràng. Đây là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên toàn thế giới. Bệnh này có thể gây hại nghiêm trọng và tử vong cho người bệnh [1].
Tình hình dịch tễ Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2022, trên thế giới có khoảng 1,9 triệu ca mắc mới và hơn 880.000 ca tử vong do ung thư đại trực tràng [2]. Theo ước tính, đến năm 2040, số ca mắc mới ung thư đại trực tràng sẽ tăng lên 3,2 triệu ca mỗi năm (tăng 63%) và số ca tử vong do ung thư đại trực tràng sẽ tăng lên 1,6 triệu ca mỗi năm (tăng 73%) [1]. Đây là loại ung thư phổ biến thứ ba trên toàn thế giới, chiếm khoảng 10% số lượng người mắc bệnh ung thư và cũng là nguyên nhân thứ hai gây tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới [1]. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng nằm trong số 10 bệnh ung thư thường gặp, có xu hướng gia tăng.
Theo thống kê năm 2022, số lượng bệnh nhân mắc mới ung thư đại trực tràng là 16.835 ca và số lượng bệnh nhân tử vong do ung thư đại trực tràng là 8. Ở các nước có thu nhập cao, tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng có xu hướng giảm do có các chương trình sàng lọc hiệu quả. Bên cạnh đó, ung thư đại trực tràng có tiên lượng khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn chẩn đoán. Ở giai đoạn sớm, người bệnh ung thư đại trực tràng có tỷ lệ sống sót cao hơn so với người bệnh ung thư giai đoạn tiến triển.
Do đó, việc chẩn đoán kịp thời, điều trị thích hợp và chăm sóc theo dõi thường xuyên đóng vai trò quan trọng để cải thiện tỷ lệ sống sót và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh ung thư đại trực tràng. Mục tiêu và các phương pháp điều trị Hiện nay, việc chẩn đoán xác định giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe của người bệnh ung thư giúp xác định mục tiêu điều trị và phương pháp điều trị phù 3 hợp cho từng người bệnh. Mục tiêu điều trị bệnh ung thư nói chung, ung thư đại trực tràng nói riêng bao gồm [11] : - Triệt căn: Nhằm giải quyết tận gốc toàn bộ bệnh với hy vọng chữa khỏi bệnh, kéo dài đời sống và không để lại hậu qua do điều trị gây ra cho người bệnh. Chỉ định này thường áp dụng đối với những trường hợp bệnh ở giai đoạn tương đối sớm, tổn thương còn khu trú, sức khỏe người bệnh tốt.
- Tạm thời: Với những bệnh ở giai đoạn muộn không còn khả năng chữa khỏi, chỉ định này giúp người bệnh sống thêm trong một thời gian với chất lượng sống tốt nhất có thể đạt được. Đặc tính chung của bệnh ung thư là phát triển tại chỗ, xâm lấn tổ chức xung quanh, di căn theo đường bạch huyết và di căn xa qua đường máu tới các cơ quan khác. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh ung thư, phụ thuộc nhiều yếu tố như cơ quan, vị trí bị ung thư, giai đoạn bệnh, thể mô bệnh học, các dấu ấn sinh học phân tử, xét nghiệm gen,… cũng như thể trạng của người bệnh. Các phương pháp điều trị ung thư có thể đơn trị liệu hoặc phối hợp nhiều phương pháp trong điều trị đa mô thức.
Trong đó, điều trị tại chỗ như phẫu thuật, tại vùng như xạ trị và điều trị toàn thân như hóa chất, liệu pháp nội tiết, điều trị đích, liệu pháp miễn dịch [4], [11], [12]. Các yếu tố nguy cơ [13] - Yếu tố dinh dưỡng: Ung thư đại trực tràng liên quan chặt chẽ với chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật, ít chất xơ, thiếu các vitamin A, B, C, E, thiếu canxi và thực phẩm có chứa benzopyren, nitrosamin. có khả năng gây ung thư. - Các tổn thương tiền ung thư: Viêm đại trực tràng chảy máu, bệnh Crohn, polyp đại trực tràng.
- Yếu tố di truyền: có vai trò quan trọng trong sinh bệnh ung thư đại trực tràng, với gen sinh ung thư và các hội chứng di truyền: Hội chứng ung thư đại trực tràng di truyền không polyp (hội chứng Lynch), bệnh đa polyp đại trực tràng gia đình (FAP), hội chứng Peutz-Jeghers, hội chứng Gardner. - Một số yếu tố khác: Tuổi (trên 50 tuổi), giới tính (nam giới). Chẩn đoán - Lâm sàng: Dựa trên triệu chứng cơ năng và thực thể. Triệu chứng cơ năng như rối loạn lưu thông ruột, táo bón hoặc ỉa chảy, đi ngoài ra nhầy máu, đau bụng, 4 biến chứng của u như bán tắc, tắc ruột, thủng u gây viêm phúc mạc, một số triệu chứng do di căn xa.
Triệu chứng thực thể như khám bụng, thăm trực tràng có thể sờ hoặc phát hiện thấy khối u. Triệu chứng toàn thân như hạch thượng đòn, thiếu máu, gầy sút cân, suy nhược. - Cận lâm sàng: + Nội soi đại trực tràng ống mềm: Phương pháp quan trọng để chẩn đoán ung thư đại trực tràng, cho biết vị trí, đặc điểm khối u và bấm sinh thiết. + Chẩn đoán hình ảnh bao gồm: Chụp X-quang chụp bụng không chuẩn bị, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, siêu âm.
+ Y học hạt nhân + Xét nghiệm sinh hóa-huyết học + Mô bệnh học - Giai đoạn: Hiện nay hệ thống phân loại TNM được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất vì có thể áp dụng với nhiều loại ung thư và cụ thể hơn các hệ thống phân loại trước. Phân loại TNM trong ung thư ĐTT theo AJCC 2018 [14]: + T: U nguyên phát.