đặt vấn đề về khái niệm “đất đô thị” va “đất nông nghiệp trong vùng đô thị hoá” dé thay được sự mâu thuẫn giữa trạng thái động của loại đất nông nghiệp đô thị và khuôn mẫu cứng nhắc của cơ chế quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Trong điều kiện hiện nay, với hệ thống pháp luật đất đai mới được ban hành, mặc dù đã có những quy định thật cụ thể cho từng loại đất, nhưng khi thực hiện trong thực tế với từng điều kiện của từng địa phương lại nảy sinh những vấn đề mà cơ chế quản lý đã được luật định chưa thể đáp ứng được. Chính vì vậy mà đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích những ảnh hưởng của quá trình phát triển và quy hoạch phát triển đô thị đối với việc sử dụng đất nông nghiệp tại thành phó Biên Hòa dé tìm ra nguyên nhân của những bất cập giữa cơ chế quản lý và thực tế sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương, nhằm đề xuất phương án sử dụng và quản lý đất nông nghiệp trong khu vực đô thị hóa tại thành phố Biên Hòa một cách hiệu quả, phù hợp với quá trình phát triển của thành phó. Đề giải quyết các van đề nêu trên đề tài dựa trên các căn cứ khoa học và pháp lý được trình bày sau đây.
Cơ sở khoa học của nghiên cứu 2. Các quan niệm về dat đai, vai trò và đặc điểm của nó trong đời sống xã hội 2. Khái niệm dat đai Thuật ngữ đất và đất đai được sử dụng rộng rãi không chỉ trong lĩnh vực chuyên ngành quản lý đất đai mà còn cả trong văn học dân gian lẫn cuộc sống thường nhật: Chế Lan Viên (1960) đã viết bài thơ nói về đất như sau: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta di đất bỗng hoá tâm hồn”. Dat tồn tại từ rat xa xưa, trước khi xuất hiện loài người.
Từ thủa sinh ra, phát triển qua nhiều thiên niên kỷ, con người đã sống và ton tại với sự vĩnh hằng của đất. Theo Lucreotit — Triết gia La Mã thé ky I trước công nguyên đã nói về đất đai: “Đất là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ Đất mà ra”. Hoặc theo Đại từ điển kinh tế thị trường (1998) đã định nghĩa: “Đất đai là một phần bề mặt tơi xốp của lớp vỏ trái đất, chịu ảnh hướng của các yếu tố tự nhiên như địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, sinh vật. Đất dai là một loại tai nguyên thiên nhiên, một loại tư liệu sản xuất, chỉ tất cả các lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất.
Đất đai nghĩa hẹp chỉ bộ phận lục địa trên bề mặt trái đất”. Khái niệm đất đai xác định trong Luật đất đai năm 1993 được định nghĩa thông qua chức năng của nó: “Dat đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Tuy nhiên, để định nghĩa một cách khoa học khái niệm đất đai, trước tiên cần phải phân biệt rõ các khái niệm khác nhau: lãnh thổ, đất và đất đai. Lãnh thổ: là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc, là phạm vi không gian cho các hoạt động sinh sông của cộng đồng dân tộc đấy.
Có thể nói lãnh thổ là phạm trù địa lý-dân tộc. Đất: là vật thể thiên nhiên hình thành lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố gồm: đá mẹ, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Tất cả các loại đất trên trái đất này được hình thành sau một quá trình thay đối lâu đời trong thiên nhiên. Như vậy đất là hiện tượng, qua trình tự nhiên, đất là phạm trù địa lý tự nhiên.
Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất ngày càng gắn liền chặt chẽ với nhau. Dat là lớp bề mặt của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng dé nuôi sống con người. Mọi hoạt động của con người gắn liền với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định. Đất đai chính là kết quả của sự gắn kết đấy.
Như vậy đất đai là khái niệm, là một phạm trù thể hiện mối quan hệ tổng hòa giữa hoạt động kinh tế-xã hội của con người với đất, lớp bề mặt trái đất trên một lãnh thổ nhất định. Bề mặt trái đất với phần bề sâu trong lòng đất và phần không gian bên trên được sử dụng vào các mục đích khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu của con người, trong các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Vì vậy có thé nói đất dai là hiện tượng địa lý-kinh tế, biến đổi theo quy luật tự nhiên và quy luật phát triển kinh tế-xã hội. Trong nhiều tài liệu về quản lý đất đai các khái niệm này thường không được phân biệt rõ ràng, và khi nói về đất đai thường hay dùng từ đất dé cho ngan gọn hơn, như Luật đất đai, Quyền sử dụng dat.
Nhưng trong tư duy khoa học cần phải phân biệt rõ ràng các khái niệm này. Vai trò và đặc điểm của đất đai Dat dai là một bộ phận không thé tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia, là một trong những dấu hiệu cơ bản dé xác định sự tồn tại của một quốc gia, một dân tộc. Pat đai là san phẩm của tự nhiên, có trước lao động. Trong quá trình vận động, đất đai tự nhiên nhờ có lao động của nhiều thế hệ cải tạo mà trở thành đất trồng trọt.
Đất gắn bó với sự tồn tại và phát triển của con người. Không chỉ theo nghĩa duy nhất là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người mà trên phương diện kinh tế tạo ra của cải vật chất, đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Ngay từ khi loài người biết tổ chức quá trình lao động sản xuất, dat đai đã trở thành yếu tố sản xuất rất quan trọng. Trong quá trình tái sản xuất xã hội, đất đai là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất và trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp đất đai là đối tượng của lao động va thông qua đất đai con người tác động lên cây trồng vật nuôi, do đó đất đai là công cụ lao động, là đối tượng lao động.
Vừa là công cụ lao động, vừa là đối tượng lao động đất đai trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt, và vì vậy đất đai là nhân tố đầu vào không thé thiếu được của nên sản xuất xã hội. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có giới hạn của một quốc gia, nhưng lại là điều kiện không thé thiếu được trong mọi quá trình phát triển. Do đó, việc sử dụng tốt tài nguyên quốc gia này không chỉ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự bảo đảm cho mục tiêu 6n định chính trị và phát triển xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, các tác động của con người trong việc khai thác và sử dụng đất đai hoàn toàn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế - xã hội, thé hiện rat rõ trong quá trình đô thị hóa.
Như đã nói ở trên, đất đai là sự vật địa lý - kinh tế, nên nó có hai thuộc tính tự nhiên và xã hội đặc trưng cho khả năng của đất đai đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh tế - xã hội của con người. Thuộc tính tự nhiên đây là một diện tích cụ thé cố định trên bề mặt trái đất với các đặc điểm về địa chất, địa chấn, địa hình, địa mạo, sinh thái khu vực và độ phì đất. Thuộc tính xã hội chính là vị thế của đất đai - là hình thức đo sự mong muốn về mặt xã hội gắn với đất đai tại một vị trí nhất định, là những thuộc tính phi vật thể phụ thuộc vào tâm lý, thị hiếu tiêu dùng của thị trường. Trong bài giảng Kinh tế đất, Trần Thanh Hùng (2004) đã nói về vị thế của đất đai, trong đó vị thế đất đai được xác định thông qua những quan hệ xã hội hình thành từ những tương tác thị trường và phi thị trường, được lượng hoá bằng số lượng, chất lượng và cường độ quan hệ xã hội.
Dat dai có khả năng tái tạo và nâng cao chất lượng về mặt tự nhiên va xã hội thông qua hoạt động đầu tư của con người. Với khả năng đáp ứng các nhu cầu hoạt động kinh tế - xã hội, đất đai trở thành đối tượng trao đổi trong nên kinh tế hàng hoá, từ đó đất đai có giá trị trao đôi trên thị trường. Giá trị của đất đai - một thuộc tính kinh tế của đất đai đã được thê chế hoá trong Luật đất đai 1993. Tuy nhiên, nhận thức khoa học về gia tri dat dai hién nay còn có nhiều điều chưa có thống nhất.
Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về giá trị nói chung và giá trị đất đai nói riêng. Bắt đầu từ quan điểm kinh tế chính trị Macxit, trên cơ sở phép biện chứng Mác đã phân tích và đưa ra khái niệm giá trị như sau: Giá trị là lao động không phân biệt nói chung của con người, hoặc lao động trừu tượng của con người kết tỉnh trong hàng hóa. Nó là một trong hai nhân tố của hàng hóa: giá trị và giá trị sử dụng. Trong đó giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa, là lao động xã hội thể hiện trong hàng hóa.
Trong mối quan hệ với giá trị trao đối thi giá trị là nội dung của giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là hình thức biéu hiện của giá trị. Giá cả là hình thái biểu hiện bằng tiền của giá trị. Tuy khái niệm trên được rút ra từ phép biện chứng - một phép tư duy được xem là nền tảng cho mọi nghiên cứu khoa học, song nó bộc lộ khuyết điểm khi giải quyết van dé giá tri của dat đai và thương hiệu.
Đất đai có sẵn trong tự nhiên không do kết tỉnh lao động tạo ra (không xét các giá trị đầu tư thêm trên đất) nhưng rõ ràng đất đai là một hàng hóa đặc biệt. Nó có giá trị trao đôi trên thị trường. Sự lúng túng trong cách lý giải giá trị trên bắt nguồn từ cụm từ “lao động kết tinh trong hang hóa”; làm sao dé xác định bao nhiêu lao động đã nhập vào hàng hóa? Nền tảng lý luận giá trị của Mác là “giá trị sức lao động”- một phạm trù mà các nhà kinh tế học sớm nhận ra là “một cuộn len, càng gỡ càng rôi”.