PHẦN MỞ ĐẦU 1 Sự cần thiết của đề tài Tài chính vi mô (TCVM) đƣợc xem là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho ngƣời có thu nhập thấp. Tài chính vi mô ngoài chức năng kinh tế là đem lại nguồn lợi để tự nuôi sống mình, còn đƣợc biết đến với một chức năng xã hội khác là giúp đỡ những hộ nghèo vƣơn lên thoát nghèo. Mặc dù, ngành tài chính vi mô ở Việt Nam những năm qua đã đóng góp to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế nhƣ quy mô còn khá nhỏ, số lƣợng tổ chức tài chính vi mô còn ít, khả năng tự vững và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô còn yếu.
Trong khi đó tổ chức tài chính vi mô hỗ trợ những ngƣời có thu nhập thấp, thƣờng không có thế chấp và phải đối mặt với rủi ro mất vốn từ ngƣời vay. Theo quan điểm (Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, 2018): “Sau một thời gian phát triển, vai trò của TCVM dần được khẳng định. Tuy nhiên, bản chất của TCVM vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và đồng đều ở các cấp, các ngành. Theo đó, TCVM vẫn chỉ được coi là tín dụng vi mô mang tính ưu đãi, bao cấp dành cho người nghèo.
Xuất phát từ nhận thức này mà trong một thời gian dài vị trí của TCVM trong hệ thống tài chính - ngân hàng chưa được nhìn nhận đúng mức và chưa được khuyến khích phát triển theo hướng bền vững (không cần trợ cấp để bù lỗ). Từ góc độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng, Việt Nam vẫn là một trong những nước có tỷ lệ thâm nhập hoạt động ngân hàng trong dân cư thấp nhất trong các quốc gia ASEAN (dưới 30%), đặc biệt là nhóm dân cư có thu nhập thấp”. Tổ chức TCVM cho thấy kết quả hoạt động khẳng định đƣợc vai trò quan trọng trong việc gia tăng mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp, góp phần trong việc thực hiện chủ trƣơng xóa đói, giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi. Mặc dù, hoạt động của TCVM đạt đƣợc nhiều kết quả khả quan nhƣng TCVM phải đối mặt với những rủi ro và thách thức lớn.
TCVM phải đối mặt với việc khách hàng đa phần là ngƣời nghèo và ngƣời có thu nhập thấp nên nhiều khoản vay của khách hàng đầu tƣ không đúng mục đích. Mặc khác, việc xác định thu nhập của khách hàng chƣa chính xác, xác định khách hàng vay nhiều 2 nguồn hoặc các hoạt động cá nhân theo nhóm lẻ nhƣ: hụi, vay mƣợn họ hàng, bạn bè, láng giềng hoặc đi vay của ngƣời cho vay lãi, vay cầm đồ. dẫn đến khách hàng mất khả năng hoàn trả. Rủi ro trong hoạt động tài chính vi mô có tác động rất lớn đến tính phát triển của ngành và sự hƣởng lợi của ngƣời nghèo cũng nhƣ sự thành công trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nƣớc.
Đứng trƣớc những thời cơ và thách thức đó, vấn đề hạn chế rủi ro và giảm rủi ro đến mức thấp nhất trong hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đã trở nên cấp thiết. Tài chính vi mô là một ngành kinh doanh đầy rủi ro. Tổ chức TCVM phải chịu hàng loạt các rủi ro. Để nâng cao thành tích hoạt động, tổ chức TCVM cần tìm ra biện pháp xử lý các rủi ro nhằm hạn chế thiệt hại, tổn thất có thể gặp phải.
Trong đó, rủi ro tín dụng là rủi ro phổ biến nhất và nghiêm trọng nhất đối với một TCTCVM. Tổ chức TCVM CEP Chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang (CEP Châu Thành) không nằm ngoài quỹ đạo đó. Hoạt động của chi nhánh CEP Châu Thành luôn chịu sự ảnh hƣởng lớn từ rủi ro tín dụng. Chỉ một khoản tín dụng vi mô thì không gây ra rủi ro tín dụng đáng kế, vì nó chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng danh mục vốn cho vay.
Tuy nhiên vì hầu hết các khoản tín dụng vi mô đều không đƣợc đảm bảo nên tình trạng nợ quá hạn có thể nhanh chóng lan từ một số ít khoản vay sang một phần lớn trong danh mục cho vay. Tác động lây lan này càng tăng lên do các khoản cho vay tài chính vi mô thƣờng tập trung vào một số lĩnh vực kinh doanh nhỏ lẻ nhất định. Vì vậy, rất nhiều khách hàng gặp cùng mối đe dọa do các tác nhân bên ngoài gây ra. Những yếu tố trên làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng cho vay, vì vậy quản lý tốt rủi ro tín dụng tại CEP Châu Thành là rất cấp thiết.
Do đó, tác giả chọn đề tài: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Tổ chức tài chính vi mô CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang” để thực hiện luận văn thạc sĩ kinh tế ngành Quản trị kinh doanh 2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung Đề tài phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Tổ chức tài chính vi mô CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang, từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro trong nhóm khách hàng CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang.2 Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng. - Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Tổ chức tài chính CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang. - Giải pháp thực hiện để kiểm soát rủi ro trong nhóm khách hàng CEP Tổ chức tài chính CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang. 3 Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu Quản lý rủi ro tín dụng tại các Tổ chức Tài chính vi mô 4 Phạm vi nghiên cứu 4.1 Không gian nghiên cứu: Tổ chức tài chính vi mô CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang.2 Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2019.
5 Câu hỏi nghiên cứu - Cơ sở lý luận nào đƣợc sử dụng làm nền tảng cho Quản lý rủi ro tín dụng vi mô? - Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Tổ chức tài chính CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang nhƣ thế nào? - Giải pháp gì nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng Tổ chức tài chính CEP chi nhánh Châu Thành tỉnh Tiền Giang? 6 Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính với các phƣơng pháp đƣợc vận dụng: 6.1 Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu Để phân tích thực trạng hoạt động quản lý và quản trị rủi ro tín dụng của CEP Châu Thành, tác giả sử dụng phƣơng pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn nhƣ sau: - Thứ nhất, nguồn tài liệu nội bộ của Tổ chức TCVM CEP. Thu thập các báo 4 cáo đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ Tổ chức TCVM CEP; Báo cáo kiểm tra, kiểm soát nội bộ, báo cáo tài chính của Tổ chức TCVM CEP; Báo cáo hoạt động kinh doanh. Ngoài ra tác giả cũng thu thập các tài liệu nhƣ Báo cáo thƣờng niên 2015-2019, Quy chế kiểm soát nội bộ, Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Kiểm soát,…. - Thứ hai, nguồn tài liệu tham khảo có tính kế thừa.
Bao gồm các luận văn thạc sĩ, các đề tài nghiên cứu khoa học…có liên quan đến đề tài. - Thứ ba, nguồn tài liệu đăng trên các tạp chí chuyên ngành và các chính sách, văn bản pháp luật. Các tạp chí chuyên ngành liên quan nhƣ Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí kiểm toán… 6.2 Phƣơng pháp phân tích số liệu - Phƣơng pháp thống kê: thu thập số liệu thứ cấp từ các tài liệu từ quản lí hành chánh nhân lực và phòng tài chính kế toán về các báo cáo qua các năm: 2015, 2016, 2017, 2018, 2019. - Phƣơng pháp mô tả: đề tài nghiên cứu đƣa ra cái nhìn tổng quát về rủi ro tín dụng và chính sách quản lý rủi ro tín dụng tại CEP Châu Thành.
- Phƣơng pháp so sánh: là phƣơng pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu gốc. Đề tài lấy các chỉ tiêu của năm liền trƣớc là chỉ tiêu cơ sở, các chỉ tiêu của năm 2015,2016, 2017, 2018, 2019 là chỉ tiêu phân tích đƣợc so sánh với chỉ tiêu gốc của năm cơ sở tƣơng ứng. - Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: Trên cở sở các số liệu thống kê phân tích thực trạng quản lý rủi ro và đƣa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng. Các kết luận và giải pháp đề xuất đƣợc đúc kết từ quá trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin, tƣ liệu trong thực tế công tác.
Qua đó, đối chiếu với cơ sở lý luận để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời vay. Trong quan hệ này, ngƣời cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho ngƣời đi vay trong một thời gian nhất định.
Ngƣời đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Theo quan điểm của (Viện Nhân lực Ngân hàng Tài Chính, 2017): “Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán”. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nƣớc (Nguyễn Đăng Dờn, 2016) Tóm lại, tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay. Trong giao dịch, ngân hàng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và bên đi vay sẽ có trách nhiệm hoàn trả số tiền vay ngân hàng cùng với lãi suất đã đƣợc thống nhất từ trƣớc khi đến hạn thanh toán.
Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là tiền tệ. Tuy nhiên, trong một số hình thức tín dụng nhƣ cho thuê tài chính thì tài sản ngân hàng trong giao dịch tín dụng cũng có thể là tài sản khác nhƣ tài sản cố định.