phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cính của luận văn đƣợc trình bày trong 105 trang chuẩn, kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Chƣơng Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Chƣơng Dƣơng. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm - Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. - Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng. - Cấp tín dụng là việc các tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ khác.
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại tín dụng * Căn cứ theo mục đích - Cho vay công nghiệp và thƣơng mại: loại vay giúp doanh nghiệp trang trải các chi phí trong sản xuất. - Cho vay nông nghiệp: loại vay nhằm hỗ trợ nông dân trong sản xuất - Cho vay để đầu tƣ, kinh doanh bất động sản: gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn; dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà cửa và bất động sản khác. - Cho vay cá nhân: là loại đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
- Cho vay với các tổ chức tài chính: là loại tín dụng dành cho tín dụng Ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. 6 - Tài trợ thuê mua: tín dụng Ngân hàng mua thiết bị, máy móc… cho khách hàng thuê. - Cho vay khác: gồm các loại không xếp hạng trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán. * Căn cứ theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và đƣợc sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lƣu động tạm thời của các doanh nghiệp; phục vụ nhu cầu tiêu dung cá nhân và hộ gia đình.
- Cho vay trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm và sử dụng chủ yếu để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu đầu tƣ dài hạn nhƣ: xây dựng cơ bản ( nhà xƣởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đƣờng xá, cảng biển, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. * Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Cho vay không có bảo đảm: là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của ngƣời thứ ba. - Cho vay có bảo đảm: là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của ngƣời thứ ba.
Các phương thức cho vay - Cho vay từng lần - Cho vay theo hạn mức tín dụng - Cho vay theo dự án đầu tƣ - Cho vay hợp vốn - Cho vay trả góp - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng - Cho vay theo hạn mức thấu chi - Các phƣơng thức cho vay khác 7 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo quy định tại Điều 3 ban hành theo Thông tƣ số 02/2013/TT/NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn.
Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt đƣợc quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng mà còn trong toàn nền kinh tế. Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro do sự suy giảm về khả năng trả nợ của các khách hàng. Giảm giá trị của khoản cho vay tín dụng không chỉ bao gồm việc không trả đƣợc nợ của khách hàng tăng lên mà còn dẫn đến thị trƣờng vốn định giá khả năng tín dụng của công ty qua mức lãi suất cao hơn đối với các công cụ nợ do công ty phát hành, hoặc là việc giảm giá của các cổ phiếu, hoặc làm giảm cấp các đại lý. Đây cũng chính là việc định giá về chất lƣợng của các công cụ nợ mà các công ty phát hành.
Rủi ro tín dụng rất nguy hiểm, khi một vài khách hàng quan trọng không trả đƣợc nợ có thể gây nên những khoản lỗ lớn cho ngân hàng và có thể dẫn ngân hàng đến tình trạng mất khả năng thanh khoản. Phân loại rủi ro tín dụng - Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk). Rủi ro danh mục đƣợc phân ra hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế.
8 + Rủi ro tập trung là mức dƣ nợ vay đƣợc dồn cho một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý. Rủi ro giao dịch có 3 thành phần: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng. + Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng * Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan - Rủi ro do môi trƣờng kinh tế không ổn định + Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trƣờng cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thƣờng xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trƣờng. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh trạnh của các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc và quốc tế trong môi trƣờng hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nƣớc với hệ thống quản lý yếu kém gặp nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nƣớc ngoài thu hút. + Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tƣ một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tƣ trong một số ngành.
Nền kinh tế thị trƣờng tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tƣ và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tƣợng khách quan. Tuy nhiên ở nƣớc ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc. - Rủi ro do môi trƣờng pháp lý không thuận lợi 9 + Hoạt động kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phƣơng Trong những năm gần đay, Quốc hội, Uỷ ban thƣờng vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nƣớc và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dƣới luật hƣớng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp nhiều vƣớng mắc bất cập nhƣ một văn bản về việc cƣỡng chế thu hồi nợ.
Những văn bản đều có quy định: Trong những trƣờng hợp khách hàng không trả đƣợc nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Trên thực tế, các ngân hàng thƣơng mại không làm đƣợc điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nƣớc, không có chức năng cƣỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đƣờng tố tụng… cúng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng ngân hàng thƣơng mại không thể giải quyết đƣợc nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng. + Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chƣa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nƣớc Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt đƣợc, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chƣa có sự cải thiện căn bản về chất lƣợng. Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới thanh tra ngân hàng còn chƣa theo kịp.
Nội dung và phƣơng pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đƣợc đổi mới.