Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về thanh khoản Trong tài chính, thuật ngữ “thanh khoản” đựợc hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngựợc lại.
Một tài sản đựợc xem là thanh khoản khi đáp ứng được các tiêu chí sau: Có sẵn số lựợng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường giao dịch, có sẵn thời gian giao dịch, giá cả hợp lý. Tính thanh khoản của tài sản đựợc đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền. Tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản chuyển đổi thành tiền nhanh và chi phí thấp. Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu.
Nhưng thuật ngữ này khi được sử dụng dưới góc độ quản trị NH lại đựợc hiểu là “khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2012). Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel ban hành tháng 9/2008 thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa cơ bản và ngắn gọn nhất của thanh khoản như sau: “Thanh khoản đại diện cho khả năng NH có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn (đến mức tối đa) và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ.
Việc không thể thực hiện nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản” (Joel Bessis, 2012). Có thể thấy rằng thanh khoản không phải là một số tiền cụ thể, hay là một tỉ lệ nào đó. Thay vào đó, nó thể hiện phạm vi khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một NH. Trái ngược với nó là “thiếu khả năng thanh khoản”, nghĩa là NH thiếu khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán.
Như vậy nếu hiểu theo nghĩa này, thanh khoản đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một NH (Joel Bessis, 2012). Theo Duttweiler (2009), có hai khía cạnh khác nhau về thanh khoản cần phải đặc biệt quan tâm, đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Trong đó, thanh khoản tự nhiên nghĩa là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian đáo hạn theo luật định. Trong lĩnh vực ngân hàng, khi một giao dịch với khách hàng thường được tái tục, có thể với cùng số tiền hoặc với số tiền nhỏ hơn/lớn hơn thì nhìn chung nhóm khách hàng này thường hành động gần như theo cách có thể dự đoán được.
Điều này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản nợ. Còn thanh khoản nhân tạo lại được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn. Ở đây có thể thấy hầu như lúc nào cũng có thể dễ dàng chuyển một chứng khoán cụ thể thành tiền mặt, đặc biệt nếu vẫn còn công ty nào muốn chuyển chứng khoán thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch. Trên thực tế, vấn đề thanh khoản chỉ xuất hiện khi NH đứng trước nhu cầu rút tiền từ khách hàng.
Khi đó NH không chỉ lo cân đối nhu cầu rút tiền với lượng tiền hiện có, mà còn là cân đối với khả năng huy động vốn tiếp theo. Vì thế việc đánh giá tính thanh khoản của NH phải nhìn ở trạng thái động, tức là cần phải được xem xét trong tương quan cung - cầu vốn khả dụng của NH trong từng giai đoạn nhất định. Các ngân hàng luôn mong muốn trạng thái thanh khoản ròng (NLP) cân bằng, có nghĩa là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 NLP = ∑cung thanh khoản - ∑cầu thanh khoản = 0 Tuy vậy, trạng thái hoàn hảo (NLP = 0) rất khó đạt được trong thực tế hoạt động của NH. Trạng thái thâm hụt hoặc dư thừa thanh khoản đều mang lại những thiệt hại cho NH nhưng nếu sự mất cân bằng giữa cung và cầu thanh khoản chỉ ở 1 con số có thể kiểm soát được thì đó cũng là thành công của NH trong việc ứng phó với rủi ro thanh khoản.
Khái niệm về rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Từ trước đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản. Theo Duttweiler (2009), rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Nghĩa là, RRTK sẽ xảy ra khi NH rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên. Như vậy RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao.
Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Cần lưu ý trong rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại, cần phân biệt rõ hai loại rủi ro thanh khoản là: - Rủi ro thanh khoản nguồn vốn: là rủi ro mà ngân hàng không đủ năng chi trả cho các dòng tiền dự đoán được hoặc không dự đoán được trước bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cách sử dụng nguồn tiền sẵn có hoặc nguồn tiền vay được thông qua việc thế chấp các tài sản của mình mà không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường hoặc điều kiện tài chính của ngân hàng (Antonio Castagna and Francesco Fede, 2013). - Rủi ro thanh khoản thị trường: là rủi ro mà ngân hàng không thể dễ dàng đóng hoặc loại bỏ trạng thái mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá thị trường bởi thị trường không đủ thanh khoản hoặc do những trục trặc khác trên thị trường cản trở (Antonio Castagna and Francesco Fede, 2013). Trong nội dung quản lý rủi ro thanh khoản của một ngân hàng thương mại mà đề tài nghiên cứu, rủi ro thanh khoản được hiểu với nội dung nghiêng về rủi ro thanh khoản nguồn vốn tại kỳ hạn ngắn hạn vì đối với các kỳ hạn trung hoặc dài hạn các NH có thể có đủ thời gian để ứng phó, xoay chuyển tình trạng mất cân đối giữa phải thu và phải trả.
Khái niệm về quản lý rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại Trong qua trình hoạt động kinh doanh, các NH luôn ưa thích có được trạng thái thanh khoản ròng thích hợp sao cho vừa đảm bảo an toàn và vừa có lợi nhuận tối đa. Tuy nhiên điều này không hề dễ thực hiện, RRTK luôn tiềm ẩn trong hoạt động thường ngày của NH. Chính vì vậy, quản lý thanh khoản vào cuộc. Về mặt khoa học quản lý, quản lý RRTK là qua trình tác động liên tục, có chủ đích của các nhà quản lý NH lên các nguồn cung và nguồn cầu thanh khoản nhằm đạt được các mục tiêu an toàn thanh khoản và mục tiêu lợi nhuận của mỗi NHTM trong những thời kì cụ thể.
Như vậy, “QLRRTK là qúa trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về việc NH không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh khoản cho khách hàng” (Nguyễn Thị Mùi, 2006). Quản lý rủi ro không có nghĩa là né tránh mà là đối diện với rủi ro để lựa chọn mức giới hạn rủi ro có thể chấp nhận được nhằm tăng khả năng sinh lợi cho NH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong quá trình thực hiện QLRRTK bao gồm hai nội dung chính là: thu hẹp độ lệch thanh khoản trong điều kiện hoạt động bình thường bằng cách quản lý cấu trúc nguồn vốn - sử dụng vốn và quản lý thanh khoản trong điều kiện khủng hoảng thanh khoản: Trong điều kiện kinh doanh bình thường, ngân hàng phải luôn thực hiện công việc thu hẹp độ lệch thanh khoản bằng quản lý cấu trúc nguồn vốn - sử dụng vốn bao gồm quy định và giám sát về thành phần và thời hạn của các khoản mục của ngân hàng, đáp ứng mục tiêu cân bằng giữa an toàn và lợi ích. Trong đó, quy trình quản lý phải đảm bảo kiểm soát được rủi ro phát sinh cả nội bảng lẫn ngoại bảng (Nguyễn Minh Sáng, 2013).
Bên cạnh đó, khi NH đối mặt với nguy cơ khủng hoảng thanh khoản, hoạt động QLRRTK bao gồm các kế hoạch ứng phó với khủng hoảng nhằm đưa ngân hàng về điều kiện bình thường. Lúc này, sự sống còn của ngân hàng được đặt cao hơn hẳn yếu tố lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu không chuẩn bị kĩ, ngân hàng có thể rơi vào một trong hai nguy cơ: (1) đánh giá thấp khủng hoảng hoặc không có/không kịp thời đưa ra các biện pháp ứng phó dẫn tới tình trạng nặng nề hơn hoặc thậm chí phá sản, (2) đánh giá tình trạng trầm trọng hơn thực tế dẫn tới sử dụng các biện pháp quá mức cần thiết, gây thiệt hại lớn về mặt tài chính cho NH. Dù nguy cơ nào xảy ra, ngân hàng cũng sẽ gánh tổn thất nặng nề sau khủng hoảng, do vậy QLRRTK trong thời kỳ hiện tại ngày càng quan trọng.
Nguyên nhân và tín hiệu thị trường nhận biết rủi ro thanh khoản 1. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM (Valla và Escorbiac, 2006). Có thể khái quát từ các tài liệu đã nghiên cứu năm nguyên nhân chính dẫn đến RRTK của NH như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Một là, cơ cấu thanh khoản không hợp lý dẫn đến bất cân xứng trong dòng tiền thu và chi.