Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH ĐỐI VỚI RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý của Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh đối với rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại 1. Rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thanh khoản Thanh khoản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau: Dưới góc độ tài sản: Thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền.
Rose thì một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó thỏa mãn đồng thời các đặc điểm: (i) Có thị trường giao dịch để có thể chuyển hóa tài sản thành tiền nhanh chóng; (ii) Giá cả của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn như thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trường vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; (iii) Thị trường của tài sản phải có khả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể (Peter Rose (2011)) Dưới góc độ Ngân hàng: Thanh khoản được hiểu là khả năng Ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh, như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác (Tô Ngọc Hưng và cs (2010)). Khái niệm cung và cầu thanh khoản Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng Cầu thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau (Tô Ngọc Hưng và cs (2010)). Khả năng và yêu cầu về thanh khoản được thể hiện trong nguồn cung và cầu thanh khoản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cung - cầu về thanh khoản trong ngân hàng Nguồn cung vốn thanh khoản Nguồn cầu thanh khoản - Tiền gửi của Khách hàng. - Khách hàng rút tiền từ tài khoản - Doanh thu từ việc bán các dịch vụ - Yêu cầu vay vốn từ những Khách hàng phi tiền gửi. chất lượng tín dụng cao. - Thanh toán nợ của khách hàng.
- Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi. - Chi phí bằng tiền và thuế xuất hiện trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ. - Vay từ thị trường tiền tệ. - Thanh toán cổ tức bằng tiền.
NLP = ∑ Cung thanh khoản - ∑ Cầu thanh khoản - Nếu NLP > 0: NHTM có thặng dư thanh khoản. Trong trường hợp này, NHTM cần phải xác định nên đầu tư khoản thặng dư thanh khoản này sao cho hiệu quả cho tới khi chúng cần sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. - Nếu NLP < 0: NHTM bị thiếu hụt thanh khoản, đòi hỏi phải bổ sung thanh khoản bị thiếu hụt. Khái niệm rủi ro thanh khoản Theo Basel II, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp thời các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của hợp đồng thanh toán.
Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp (Tô Ngọc Hưng và cs (2010)). Có nhiều khái niệm về RRTK tuỳ góc độ tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu. Song, một cách chung nhất, rủi ro thanh khoản là những tổn thất tiềm năng về tài chính, thương hiệu có thể xảy ra do Ngân hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ chi trả và thanh toán một cách đầy đủ và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đúng hạn theo cam kết và là tổn thất về tài chính của NHTM để khắc phục tình trạng mất khả năng chi trả, khả năng thanh toán của ngân hàng.
RRTK của NHTM chia thành 4 nhóm như sau: - Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn - Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn - Rủi ro thanh khoản tài trợ - Rủi ro thanh khoản thị trường. Nguyên nhân rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại Thứ nhất, sự mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Nếu như các NHTM không tiến hành đa dạng hóa các nguồn vốn huy động, đa dạng hóa các kỳ hạn tiền gửi mà tập trung quá mức vào một số đối tượng khách hàng ở một số phạm vi thị trường và một vài loại đồng tiền thì nguy cơ rủi ro sẽ rất cao. Đặc biệt là khi mà NHTM nắm giữ danh mục tài sản Nợ quá nhạy cảm với lãi suất thì nguy cơ RRTK sẽ tăng cao.
Thứ hai, biến động thất thường của nền kinh tế thực trong nước và trên quốc tế. Diễn biến của nền kinh tế thế giới có tác động mạnh mẽ đến thị trường tiền tệ. Thứ ba, biến động bất thường của thị trường tài chính trong nước và quốc tế, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước. Thứ tư, sự tăng trưởng tiền tệ, tín dụng quá nhanh, không bền vững yếu kém trong hệ thống chính sách, công cụ và năng lực.
Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng thương mại đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung quá lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có do ngân hàng sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Chính điều này đã tạo ra rủi ro thanh khoản cao đối với NHTM. Thứ năm, tác động lan truyền. Với tư cách là một trung gian tài chính, hoạt động của NHTM căn bản phải trên cơ sở tạo lập niềm tin nơi công chúng, một khi niềm tin của NHTM bị suy giảm thì hậu quả sẽ rất khó lường, lan truyền ra công chúng, công chúng sẽ ồ ạt rút tiền gửi, khi đó NHTM sẽ đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán, sự đổ vỡ sẽ rất khó tránh khỏi nếu thiếu sự trợ giúp từ NHTW.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Cụ thể hơn nguyên nhân rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại gồm các nguyên nhân sau: a. Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, do sự bất cân xứng kì hạn của tài sản có và tài sản nợ, bắt nguồn từ chính chức năng chuyển hóa kì hạn của ngân hàng: huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn từ dân chúng để cho vay các khoản tín dụng dài hạn. Như vậy kì hạn của tài sản có dài hơn kì hạn của tài sản nợ khiến dòng tiền của tài sản có không cân xứng với dòng tiền cần để đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của các TSN, gây khó khăn cho ngân hàng phải lo tìm nguồn bù đắp. Thứ hai, do sự mất cân đối trong cơ cấu tài sản.
Điều này xuất phát hầu hết từ áp lực lợi nhuận ngắn hạn của cổ đông lên ban điều hành mà quên mất những nguyên tắc trong quản trị tài sản nợ và tài sản có. Trong danh mục tài sản của mình, NHTM đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và/hoặc tín phiếu kho bạc. Trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại dễ dàng cho NHTM đem đi chiết khấu tại NHTW một khi thanh khoản có vấn đề. Bất cứ NHTM nào, đặc biệt là ngân hàng nhỏ, đều hiểu điều này nhưng với tiềm lực tài chính yếu thì khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn trong việc đấu thầu các trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc.
Thứ ba, cơ cấu khách hàng không hợp lý. Ngân hàng tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành, một địa phương nào đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc trong tổng huy động có một khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, khi những khách hàng này gặp khó khăn không trả nợ đúng hạn hoặc rút một cách bất ngờ thì dẫn đến RRTK. Thứ tư, do các ngân hàng chạy theo mục tiêu lợi nhuận trước mắt nên có những chính sách cho vay quá cởi mở, dẫn đến hạ thấp các điều kiện cho vay, cho vay các khách hàng vay có điều kiện kém, hệ quả tất yếu là rủi ro tín dụng và sau rủi ro tín dụng là RRTK. Thứ năm, do tiềm lực tài chính của các ngân hàng còn hạn chế.
Vốn điều lệ là số vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong điều lệ của ngân hàng, được hình thành khi NHTM mới được thành lập. Nó phản ánh quy mô hay thực lực tài chính của NHTM. Nếu vốn điều lệ của NHTM càng cao, chứng tỏ ngân hàng càng có tiềm lực tài chính, ngược lại, nếu vốn điều lệ của NHTM càng ít thì quy mô hoạt động của ngân hàng càng nhỏ. Các ngân hàng nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nguồn vốn, hoặc chỉ vay được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay.
Có thể nói áp lực rất lớn khi các ngân hàng này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc giải quyết vấn đề thanh khoản. Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong những nguyên nhân đẩy NHTM đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản khi nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột. Thứ sáu, RRTK là hậu quả của các rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng. RRTK và các loại rủi ro khác có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Một tổ chức tài chính có thể mất khả năng thanh khoản nếu chỉ số tín nhiệm tín dụng của tổ chức này giảm sút, tổ chức này đối mặt với tình trạng lượng tiền ra ồ ạt không dự kiến được trước hay một sự kiện nào đó khiến cho các đối tác không muốn giao dịch hoặc cho vay đối với tổ chức đó. Nếu một đối tác vay tiền của ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ thì ngân hàng sẽ phải huy động tiền từ những nguồn khác để thanh toán khoản đi vay của ngân hàng, bù đắp vào chi trả này.