LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng - BCBS đã ban hành các văn bản Hiệp ƣớc từ năm 1975 với mục đích chính là phát hiện sớm và giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động ngân hàng. Với phiên bản Basel III đƣợc ban hành năm 2010, đã đƣa ra các nguyên tắc và tiêu chuẩn quản lý rủi ro đƣợc cho là tân tiến và hiện đại nhất. Tính tới thời điểm hiện tại, đã có khoảng 200 ngân hàng trên toàn cầu triển khai Basel III.
Đối với Việt Nam – một nền kinh tế đang phát triển, sau khi đánh giá năng lực và mức độ phù hợp của hệ thống ngân hàng, Chính phủ ta đã nhận thấy Việt Nam chƣa đủ khả năng để áp dụng Basel III và đặt mục tiêu đến năm 2025, tất cả các ngân hàng thƣơng mại trong hệ thống đều áp dụng chuẩn mực theo Basel II. Theo tiến trình thực hiện mục tiêu nêu trên, năm 2014, Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đã chọn 10 ngân hàng thí điểm để triển khai tuân thủ Basel II. Tuy Ngân hàng liên doanh Việt – Nga (VRB) không nằm trong số các ngân hàng lớn đƣợc thí điểm, nhƣng nhờ sự hỗ trợ của hai ngân hàng mẹ là Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV) và VTB, Hội đồng thành viên VRB, công tác quản quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro hoạt động nói riêng bắt đầu đƣợc quan tâm và xây dựng thành một mảng công việc riêng độc lập. Tháng 9/2020, trong khuôn khổ nội dung của dự án “Quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ vốn – ICAAP”, VRB hợp tác với công ty Deloitte (đơn vị tƣ vấn), đã xác định các rủi ro trọng yếu của VRB, theo đó, rủi ro hoạt động có cùng mức độ rủi ro với rủi ro tín dụng với khả năng xảy ra và mức độ ảnh hƣởng lần lƣợt ở mức cao và rất cao (tƣơng ứng ở mức 4 và 5 trong thang chấm điểm).
Có thể thấy, VRB đã quan tâm hơn đến công tác quản lý rủi ro hoạt động và tính đên năm 2021, công tác này đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng khen ngợi. Tuy nhiên, một thực tế là, những sự cố rủi ro hoạt động gây ra tổn thất về tài chính và danh tiếng của VRB vẫn phát sinh và có xu hƣớng ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Xuất phát từ thực trạng trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý rủi ro hoạt động theo Basel II tại Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga (VRB)” cho Luận văn của 1 2 mình, với mong“muốn tiếp cận nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro hoạt động và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý rủi ro hoạt động của VRB trong điều kiện hội nhập và tình hình kinh tế - chính trị đang có nhiều bƣớc chuyển dịch hiện nay. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý rủi ro nói chung, quản lý rủi ro hoạt động nói riêng tại các ngân hàng thƣơng mại Quản lý rủi ro hoạt động đã trở thành một vấn đề quan trọng mà các ngân hàng toàn cầu phải đối mặt.
Ở Việt Nam, mặc dù công tác này đã dần đƣợc quan tâm nhƣng vẫn chƣa có nhiều sản phẩm nghiên cứu về quản lý rủi ro hoạt động ở cấp quốc gia, đa phần là luận văn, khóa luận và nhiều bài báo đăng trên các tạp chí khoa học, tạp chí ngân hàng. Các tài liệu nghiên cứu liên quan có thể đƣợc chia thành hai nhóm nhƣ sau: 2. Các nghiên cứu về việc áp dụng Basel II tại các ngân hàng thƣơng mại Một số nghiên cứu nước ngoài Tác giả Gleeson, Simon (2010) nghiên cứu “Giám sát ngân hàng quốc tế: Basel II: Yêu cầu về vốn và rủi ro” đã đặc biệt đƣa ra tác động của Basel II đến những sự phù hợp trong thủ tục, chính sách và đối với những thay đổi trong chính sách, thủ tục và giám sát ngân hàng. Nghiên cứu cũng trình bày thực tế về việc các ngân hàng của Liên minh Châu Âu – EU thực hiện nhƣ thế nào các nguyên tắc chung Basel II.
Về việc đánh giá mức hiệu quả của hệ số an toàn vốn trong Hiệp ƣớc Basel II bản sửa đổi năm 2011, tác giả Gordon J. Alexander (2012) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng hệ số này đƣợc quy định trong Hiệp ƣớc Basel II sửa đồi năm 2011 đã đủ đáp ứng và phù hợp với năng lực và hiện trạng của các ngân hàng thƣơng mại. Một số nghiên cứu tại Việt Nam Năm 2006, tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã công bố nghiên cứu “Chuẩn mực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại theo Hiệp định Basel II và việc áp dụng tại Việt Nam”, đây có thể coi nằm trong những 2 3 nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về ứng dụng của Hiệp ƣớc Basel II cho quản lý rủi ro tại ngân hàng thƣơng mại. Nghiên cứu này đã có mô tả tổng quát về Hiệp ƣớc Basel II với 03 trụ cột và trình bày thực trạng công tác quản lý rủi ro tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam tại thời điểm đó.
Ngoài ra, tác giả cũng có một số nhận định về khả năng đáp ứng các yêu cầu của Basel II tại Việt Nam. Tác giả Đinh Xuân Cƣờng (2014) với bài viết “Đòn bẩy để các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam tiếp cận hiệp ƣớc vốn Basel II” đã nhấn mạnh khó khăn của các ngân hàng Việt Nam khi triển khai áp dụng các nội dung Basel, nguyên nhân chính do sự mất cân bằng thông tin. Theo tác giả, nhìn chung các ngân hàng lớn của Việt Nam đã đáp ứng về CAR khoảng 8%, tuy nhiên cách tính hệ số này vẫn còn nhiều khác biệt so với thế giới. Nhóm nghiên cứu về quản lý rủi ro hoạt động Một số công trình nghiên cứu nước ngoài Cuốn sách “Đo lƣờng rủi ro hoạt động và danh tiếng: Phƣơng pháp tiếp cận” của tác giả Aldo Soprano (2010), đã mô hình hóa rủi ro danh tiếng, rủi ro hoạt động và chỉ ra cho các chuyên viên quản lý rủi ro những mô hình tốt nhất để áp dụng cho một tình huống nhất định, theo từng loại rủi ro mà tổ chức đó đang gặp phải.
Dựa trên nghiên cứu ứng dụng sâu rộng về các mô hình rủi ro hoạt động bằng cách sử dụng bộ dữ liệu ngân hàng thực, cuốn sách cung cấp một loạt các mô hình thử nghiệm khác nhau và các kỹ thuật phù hợp cho các nhà tài chính. Tác giả Suné Ferreira và Zandri Dickason-Koekemoer với “Nghiên cứu mô hình kinh tế lƣợng về các sự cố rủi ro hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng” (2019) đã nghiên cứu về hành vi cá nhân gửi tiền và các sự cố rủi ro hoạt động tại một tỉnh của Nam Phi. Nghiên cứu đã chỉ ra mối tƣơng quan giữa khả năng rút tiền của ngƣời gửi tiền với các sự cố rủi ro hoạt động và khả năng chấp nhận rủi ro của ngƣời gửi tiền. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ lấy mẫu của 417 khách hàng gửi tiền của tỉnh Gauteng, Nam Phi, nên không có tính ứng dụng tại địa phƣơng khác.
3 4 Một số nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu “Quản lý rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” (2011) của tác giả Nguyễn Hoài Linh đã bàn về công tác quản lý rủi ro hoạt động ở trong phạm vi toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam nhƣng vẫn chƣa đƣa ra đƣợc các giải pháp phong phú để hạn chế rủi ro. Tác giả Đào Thị Thanh Tú (2014) với bài viết “Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” đã chỉ ra các khó khăn và lỗ hổng trong việc triển khai quản lý rủi ro hoạt động tuân thủ Hiệp ƣớc Basel II tại các NHTM tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra một số giải pháp cần thiết, một trong số đó là sử dụng công cụ phân tích kịch bản rủi ro hoạt động. Đây là một trong những công cụ rất phổ biến trong công tác quản lý rủi ro hoạt động, công cụ này giúp Ban lãnh đạo của ngân hàng có hệ thống dữ liệu cần thiết trong việc điều hành.
Việc giám sát rủi ro hoạt động cũng đƣợc nhấn mạnh để tạo tiền đề cho việc phân tích tổn thất rủi ro. Tác giả Phan Thị Hoàng Yến (2021) nghiên cứu về “Khó khăn trong quản lý rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam” đã chỉ ra rằng khi rủi ro hoạt động phát sinh tại ngân hàng, các đơn vị còn tâm lý “đùn đẩy” nhau, đơn vị này đổ lỗi cho quy trình của đơn vị khác có lỗ hổng dẫn đến rủi ro hoạt động. Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng chƣa phân cấp thẩm quyền tƣơng xứng cho bộ phận đầu mối thực hiện quản lý rủi ro hoạt động, nhiều sự kiện rủi ro nhƣng bộ phận này không đƣợc tham gia xử lý hoặc nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý rủi ro thuê ngoài (thuê bảo vệ cho trụ sở, thuê công ty về công nghệ thông tin. Một số bài viết khác về cùng chủ đề đã đƣợc đăng tải lên các website, tạp chí nhƣ: tác giả Nguyễn Thị Hằng với “Quản lý rủi ro tác nghiệp đối với Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” đã trình bày một số yêu cầu quan trọng đối với quản lý rủi ro hoạt động tại các ngân hàng Việt Nam.
“Quản lý rủi ro tác nghiệp trong ngân hàng hiện nay” của tác giả Đỗ Lê đã đề xuất một số giải pháp và nhấn mạnh vai trò của hoạt động thanh tra, giám sát. Nghiên cứu “Quản lý rủi ro tác nghiệp đem lại sự an toàn, uy tín và hiệu quả” của tác giả Đào Hải Hà,. Các 4 5 nghiên cứu kể trên mặc dù có nhiều đóng góp nhƣng chỉ giải quyết một số vấn đề riêng lẻ về rủi ro hoạt động hay quản lý rủi ro hoạt động mà chƣa đƣa ra biện pháp xử lý toàn diện. Khoảng trống nghiên cứu Đầu tiên, các nghiên cứu về Basel nói chung và Basel II nói riêng đã chỉ ra đƣợc những ƣu việt của việc áp dụng Hiệp ƣớc này vào hoạt động của ngân hàng thƣơng mại.
Tuy nhiên, nhiều công trình chỉ nghiên cứu có một đối tƣợng xác nhận và chỉ đi sâu vào một trong ba trụ cột của Basel II. Thứ hai, các nghiên cứu về quản lý rủi ro khá đa dạng nhƣng lại có rất ít nghiên cứu nói về quản lý rủi ro hoạt động và thông tin cung cấp cho ngƣời đọc cũng không đƣợc đầy đủ.