CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1. Tổng quan về rủi ro hoạt động 1. Khái niệm rủi ro hoạt động Theo Ủy ban Basel II: Rủi ro hoạt động là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín.
Theo định nghĩa của BIDV: Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót; do con người; do hệ thống công nghệ thông tin hoặc do các yếu tố bên ngoài. Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro hoạt động Có bốn nguyên nhân dẫn đến RRHĐ, đó là: Con người; Quy trình nội bộ; Hệ thống công nghệ thông tin; Các sự kiện bên ngoài. Rủi ro do con người (cán bộ ngân hàng) - Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến RRHĐ chính là sự không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ nội bộ ngân hàng và các văn bản pháp luật có liên quan hoặc vận dụng sai khi thực hiện.
- Cán bộ thực hiện các nghiệp vụ không đúng thẩm quyền được giao hoặc vượt thẩm quyền cho phép. - Cán bộ không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ Ngân hàng. - Cán bộ không chấp hành nội quy lao động, hợp đồng lao động và cam kết bảo mật thông tin trong quá trình làm việc… - Nhân viên có hành vi lừa đảo hoặc hành vi phạm tội, cấu kết với các đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho Ngân hàng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng. Cụ thể như: cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng để lập hồ sơ khống để vay vốn… 9 - Phong cách giao tiếp, ứng xử với khách hàng thiếu văn minh, gây ấn tượng không tốt cho khách hàng làm ảnh hưởng đến hình ảnh, thương hiệu của Ngân hàng.
- Cán bộ thiếu ý thức trong việc phối hợp làm việc giữa các bộ phận, phòng ban khác, tắc trách, chủ quan không phát hiện kịp thời các dấu hiệu có rủi ro cao. - Cán bộ làm việc không tập trung, cẩu thả hoặc thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn tới hạch toán sai, nhầm lẫn khách hàng, tiền tệ … 1. Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ - Các quy định, quy trình nghiệp vụ là kim chỉ nam cho hoạt động của Ngân hàng. Vì vậy nếu các quy định, quy trình nghiệp vụ ban hành chưa hoàn chỉnh, kịp thời, bất cập, mâu thuẫn với các quy định của Nhà nước, thiếu nội dung quy định về các chốt kiểm soát cần thiết… sẽ tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng hoặc chính cán bộ ngân hàng lợi dụng gây thiệt hại cho Ngân hàng.
- Các quy định, quy trình nghiệp vụ chống chéo, không thống nhất với nhau, có nội dung chưa phù hợp, chưa rõ ràng, phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của ngân hàng dẫn đến mâu thuẩn, bất hợp lý trong quá trình áp dụng, gây khó khăn cho cán bộ trong quá trình tác nghiệp. - Thiếu các quy trình, quy định cho các sản phẩm, dịch vụ mới hoặc các sản phẩm, dịch vụ được triển khai thực hiện trước khi có quy định, quy trình dẫn đến rủi ro cho cán bộ cũng như cho ngân hàng. Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin - Hệ thống phần cứng của công nghệ lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống, đặc biệt là đối với hoạt động Ngân hàng đòi hỏi có trình độ công nghệ cao. Khi hệ thống bảo mật của các chương trình không đáp ứng được yêu cầu cũng có thể dẫn dến khả năng mất an toàn cho hoạt động của Ngân hàng như không được bảo mật, an toàn thông tin của khách hàng nên bị kẻ gian để đánh cắp thông tin, dữ liệu, thậm chí có thể xâm nhập vào chương trình để thay đổi hệ thống dữ liệu, tạo ra các giao dịch ảo có thể rút tiền của khách hàng.
10 - Lỗi hệ thống công nghệ thông tin (gồm lỗi phần cứng, lỗi phần mềm, lỗi thiết bị mạng và các thiết bị liên quan, lỗi đường truyền) dẫn tới làm gián đoạn hoạt động của hệ thống, làm ngừng trệ các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, gây ra những tổn thất cho không chỉ Ngân hàng mà còn cho cả khách hàng. Ngoài ra, nó còn làm cho các giao dịch bị sai lệch, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. - Sự tấn công của hacker hoặc virus làm sai lệch dữ liệu, làm mất dữ liệu, ăn cắp dữ liệu… 1. Rủi ro do sự kiện bên ngoài - Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài ngân hàng như: trộm cắp, cướp giả mạo giấy tờ, tung tin đồn thất thiệt, khủng bố, chiến tranh… - Rủi ro do các sự kiện bên ngoài hoặc do tự nhiên (động đất, lũ lụt, bão….) gây gián đoạn hoạt động và gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Rủi ro do thể chế, chính sách như các văn bản, quy định của Chính phủ, các ban ngành có liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới ban hành làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và có khả năng không đạt được chỉ tiêu đề ra. - Trong xu thế phát triển của thời đại hiện nay, RRHĐ tiếp tục tăng do: Môi trường kinh doanh phức tạp hơn, hành vi trái pháp luật tăng lên; Hội nhập quốc tế ngày một tăng; Áp lực công việc, đòi hỏi kết quả cao hơn, đòi hỏi lòng trung thành của nhân viên và sự quan tâm của các nhà lãnh đạo nhiều hơn; Sự phụ thuộc vào công nghệ nhiều hơn; Tốc độ và khối lượng giao dịch tăng hơn; 1. Mối quan hệ giữa rủi ro hoạt động với rủi ro tín dụng Rủi ro rất đa dạng, có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là nguyên nhân dẫn đến rủi ro khác. Rủi ro tín dụng và RRHĐ là 02 loại rủi ro cơ bản nhất mà một TCTD thường gặp phải.
Do đó, cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Định nghĩa rủi ro tín dụng: Theo quan niệm của Ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [8]. Như vậy, rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
So sánh và mối quan hệ giữa RRHĐ, rủi ro tín dụng Nếu rủi ro tín dụng chỉ liên quan đến một hoặc một số bộ phận của ngân hàng thì RRHĐ có liên quan đến toàn bộ các bộ phận. Ví dụ: Nếu sự cố đường truyền xảy ra chẳng hạn, hoặc lỗi hệ thống máy tính bị hacker thì toàn bộ hoạt động ngân hàng sẽ bị ngưng trệ. Hoặc nếu quy trình nghiệp vụ huy động vốn không phù hợp với quy định hiện hành của các cơ quan quản lý thì cũng dễ xảy ra nguy cơ ngân hàng bị phạt, các giao dịch bị hủy bỏ. Trong các loại rủi ro thì RRHĐ là rủi ro ảnh hưởng nhiều nhất và bao trùm lên tất cả các loại rủi ro khác.
RRHĐ hiện hữu trong từng hoạt động hàng ngày tại các Ngân hàng. Ví dụ một cán bộ tín dụng không chấp hành đúng các quy trình nghiệp vụ sẽ gây ra nợ xấu, thất thoát tài sản, tức là gây ra rủi ro tín dụng và khi mức độ thiệt hại lớn, ảnh hưởng đến thanh khoản của Ngân hàng thì dẫn đến rủi ro thanh khoản. Do đó quản lý tốt RRHĐ sẽ làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro khác. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nếu để xảy ra rủi ro này lại kéo theo các loại rủi ro khác.
Theo thống kê của một chuyên gia cao cấp ngân hàng: “hơn 80% rủi ro tín dụng thực chất là rủi ro hoạt động”. Vì vậy, rủi ro hoạt động và rủi ro 12 tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nhau, rủi ro này là nguyên nhân của rủi ro kia. Rủi ro trong hoạt động bởi nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài lại gây ro rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng do khách hàng cố tình chây ì không chịu trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng thì lại gây ra RRHĐ do sự kiện bên ngoài (do hành vi lừa đảo).
Quản lý nhà nước về RRHĐ của NHTM 1. Quản lý nhà nước về NHTM trong nền kinh tế mở Có thể nói hệ thống ngân hàng là bộ phận then chốt không thể tách rời của hệ thống tài chính quốc gia, có quan hệ sống còn với các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế nên rất cần có sự quản lý của nhà nước để giúp hệ thống này vận hành một cách an toàn và hiệu quả. Do đó, Nhà nước có vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành tài chính - ngân hàng, đồng thời ngăn chặn hữu hiệu những cơn sốt trong ngành để không dẫn đến đổ vỡ và khủng hoảng. Trước hết, Nhà nước có vai trò không thể thiếu trong việc chế tài và giám sát để đảm bảo ngành ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn.
Sự can thiệp của Nhà nước sẽ giúp làm giảm các khiếm khuyết của thị trường như hành vi chống cạnh tranh, gian lận, thông tin không chính xác. Những khiếm khuyết trên cần phải được khắc phục bằng các quy chế về thị trường, bằng các quy chế về giám sát phòng ngừa buộc các ngân hàng phải minh bạch thông tin về tình hình hoạt động để khách hàng có cơ sở cho quyết định đầu tư.