Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp hiện là ngành tiêu thụ tài nguyên nước lớn nhất tại Việt Nam với tổng lưu lượng sử dụng hàng năm đạt khoảng 93 tỷ m3, chiếm tỷ trọng áp đảo so với 17,3 tỷ m3 của công nghiệp và 3,09 tỷ m3 cho sinh hoạt. Đến năm 2030, nhu cầu dùng nước của nông nghiệp dự kiến vẫn chiếm tới 75%. Trong đó, hoạt động canh tác lúa nước trên diện tích hơn 7,8 triệu ha tiêu tốn trung bình từ 4.500 đến 5.500 m3/ha trong vụ hè thu và 5.500 đến 6.500 m3/ha trong vụ chiêm xuân. Đồng thời, ngành nông nghiệp phát thải 88,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2010, trong đó canh tác lúa đóng góp 50,49% tổng lượng phát thải toàn ngành và chiếm tới 77,1% tổng lượng phát thải khí mêtan (CH4).

Tập quán tưới ngập thường xuyên truyền thống làm cạn kiệt nguồn nước ngọt và tạo môi trường kỵ khí thúc đẩy phát sinh khí nhà kính. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định chế độ quản lý nước tiết kiệm tối ưu, giảm phát thải khí CH4 và hoàn thiện quy trình kỹ thuật tưới mặt ruộng cho vùng Đồng bằng sông Hồng. Phạm vi nghiên cứu bao quát 10 tỉnh thành thuộc Đồng bằng sông Hồng, thực nghiệm trực tiếp tại xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trên quy mô cánh đồng 50 ha trong năm 2017.

Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN về giảm 20% phát thải khí nhà kính ngành nông nghiệp. Kết quả mở ra khả năng tiết kiệm từ 20,4% đến 37,5% lượng nước tưới, giảm từ 19,09% đến 31,56% phát thải khí CH4 và giữ vững năng suất lúa bình quân 12,8 tấn/ha/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai trục lý thuyết sinh lý học và hóa sinh thổ nhưỡng làm nền tảng. Thứ nhất, lý thuyết quan hệ nước và cây trồng khẳng định nước chiếm 90% khối lượng chất nguyên sinh thực vật. Để tạo ra 1 kg chất khô, cây lúa cần tiêu thụ hơn 300 kg nước qua quá trình thoát hơi nước và quang hợp. Bất kỳ sự thiếu hụt hay dư thừa nước ngoài ngưỡng tối ưu đều làm suy giảm năng suất lúa.

Thứ hai, lý thuyết phân giải hữu cơ trong đất ngập nước làm rõ cơ chế phát sinh khí nhà kính. Dưới điều kiện yếm khí ngập nước liên tục, các hợp chất xenlulozơ, lignin và chất hữu cơ chứa nitơ bị phân hủy bởi quần thể vi khuẩn kỵ khí thuộc họ Methanobacteriaceae (gồm Methanosarcina và Methanococcus), giải phóng một lượng lớn khí CH4 khi thế oxy hóa khử (Eh) hạ sâu xuống mức từ -176 mV đến -287 mV. Ngược lại, việc ứng dụng kỹ thuật tưới khô ướt xen kẽ (AWD) và quy trình nông lộ phơi đưa oxy vào đất, kích hoạt quá trình khoáng hóa hiếu khí tạo ra CO2 và H2O, ức chế hoàn toàn quá trình sinh khí mêtan.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm đồng ruộng được triển khai trên quy mô 50 ha tại xã Phú Thịnh, chia làm 3 công thức: khu khô kiệt 9,1 ha (rút nước đến độ sâu -15 cm mới tưới), khu khô vừa 8,11 ha (rút nước đến độ sâu -5 cm mới tưới) và khu đối chứng truyền thống 32,75 ha (tưới ngập thường xuyên 3 đến 5 cm). Cỡ mẫu quan trắc chuyên sâu gồm 6 ô ruộng điển hình đại diện cho các hộ dân: ô khô kiệt S1 và S2 tổng diện tích 1.690,3 m2; ô khô vừa W1 và W2 tổng diện tích 1.591,3 m2; ô truyền thống C1 và C2 tổng diện tích 2.304 m2.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật phân tầng theo cao độ địa hình tự nhiên và loại đất: ô khô kiệt bố trí tại dải ruộng cao nhất, ô khô vừa ở dải trung bình và ô truyền thống ở vùng trũng thấp. Đất thí nghiệm là đất phù sa trung tính ít chua đại diện vùng Đồng bằng sông Hồng với tầng canh tác dày từ 0 đến 0,25 m.

Phương pháp thu mẫu khí nhà kính sử dụng kỹ thuật buồng kín (closed chamber) và phân tích định lượng bằng máy sắc ký khí (GC) theo tiêu chuẩn của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Mực nước mặt ruộng được theo dõi qua ống quan sát đục lỗ chôn sâu -20 cm, kết hợp trạm khí tượng tự động ghi nhận lượng mưa 1.650 mm/năm và nhiệt độ trung bình 23,2°C trong suốt các mùa vụ năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả thực nghiệm trên các ô ruộng điển hình vụ xuân và vụ mùa năm 2017 đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, khả năng tiết kiệm tài nguyên nước vượt bậc. Công thức tưới khô kiệt và khô vừa giúp giảm tổng lượng nước tưới mặt ruộng từ 20,4% đến 37,5% so với phương pháp tưới ngập truyền thống. Mức tưới thực tế giảm từ 5.500 - 6.500 m3/ha xuống còn 3.700 - 4.500 m3/ha, tiết kiệm tương đương 1.200 đến 1.800 m3 nước trên mỗi hecta canh tác.

Thứ hai, mức độ phát thải khí nhà kính (CH4) giảm rõ rệt. Rút nước phơi ruộng định kỳ giúp cắt giảm lượng CH4 phát thải toàn vụ từ 19,09% đến 31,56%. Cường độ phát thải khí mêtan trung bình vụ mùa giảm từ 17,38 mg/m2/h ở ô đối chứng xuống còn 13,38 - 14,64 mg/m2/h ở các ô tưới tiết kiệm, tương đương mức giảm từ 75 đến 125 kg CH4/ha mỗi vụ.

Thứ ba, năng suất lúa và hiệu quả kinh tế được cải thiện. Năng suất thu hoạch tại các ô tưới tiết kiệm không bị suy giảm mà tăng trưởng từ 2,7% đến 9,0% trong vụ xuân, duy trì năng suất bình quân toàn vùng đạt 12,8 tấn/ha/năm. Lợi nhuận thuần của nông dân tăng thêm từ 19,7% đến 32%, tương đương tăng từ 3 đến 5 triệu đồng/ha.

Thứ tư, tối ưu hóa công tác vận hành thủy nông. Số đợt bơm tưới giảm từ 8 - 9 đợt xuống còn 5 - 6 đợt mỗi vụ, giảm áp lực vận hành cho 2 trạm bơm công suất 980 m3/h của hợp tác xã.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính giúp giảm phát thải khí mêtan là sự cải thiện chế độ thoáng khí trong đất. Khi mực nước hạ xuống ngưỡng -5 cm hoặc -15 cm, không khí thâm nhập vào các mao quản đất làm tăng thế oxy hóa khử Eh, ức chế vi khuẩn sinh mêtan và kích thích vi khuẩn oxy hóa mêtan hoạt động. Việc phơi ruộng từ 10 đến 12 ngày ở giai đoạn cuối đẻ nhánh còn giúp bộ rễ lúa ăn sâu vào tầng đất 0,25 - 0,8 m, chống đổ ngã và giảm hiện tượng nghẹt rễ do độc chất hữu cơ.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế tại Trung Quốc (giảm 23% phát thải CH4) và các nghiên cứu tại Hà Nội (giảm 19,09% - 31,06% phát thải CH4). Trong thực tế, toàn bộ dữ liệu quan trắc có thể được trực quan hóa qua biểu đồ đường thể hiện mối quan hệ nghịch biến giữa độ sâu mực nước mặt ruộng và cường độ phát thải khí CH4, kết hợp với bảng ma trận so sánh lượng nước tưới, chỉ số sinh trưởng và cơ cấu chi phí sản xuất giữa các công thức thí nghiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nhân rộng mô hình quản lý nước tiết kiệm và giảm phát thải khí nhà kính ra toàn vùng Đồng bằng sông Hồng, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất:

Thứ nhất, ban hành và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật tưới nước mặt ruộng thích ứng với từng mùa vụ. Cục Thủy lợi cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các địa phương cần hoàn thiện quy trình tưới khô kiệt (-15 cm) cho vụ xuân 110 ngày và vụ mùa 95 ngày. Mục tiêu đặt ra là áp dụng trên 70% diện tích đất lúa toàn vùng trong giai đoạn 2021 - 2025, giúp tiết kiệm tối thiểu 20% lượng nước ngọt.

Thứ hai, nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống thủy lợi nội đồng. Ủy ban nhân dân các huyện và Hợp tác xã Nông nghiệp cần phân bổ ngân sách kiên cố hóa 14,6 km kênh đất còn lại, lắp đặt hệ thống cống điều tiết phân vùng trước năm 2023. Giải pháp này giúp kiểm soát nước chủ động cho 202 ha canh tác, xóa bỏ hoàn toàn hiện tượng ngập lụt và khô hạn cục bộ.

Thứ ba, phổ cập công cụ giám sát mực nước mặt ruộng chi phí thấp. Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp cung cấp và hướng dẫn lắp đặt ống nhựa PVC quan sát mực nước (đường kính 100 - 150 mm) trên 100% ô thửa của nông hộ trong vòng 12 tháng, giúp người dân dễ dàng nhận biết thời điểm nước rút xuống -5 cm hoặc -15 cm để mở cống lấy nước.

Thứ tư, đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật và truyền thông khuyến nông. Trung tâm Khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật tưới nông lộ phơi và bón phân cân đối cho hơn 3.012 lao động nông nghiệp địa phương, đảm bảo trên 90% nông dân nắm vững kỹ thuật trước mùa vụ 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và tài nguyên nước như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Thủy lợi, Chi cục Thủy lợi các tỉnh. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật tưới tiết kiệm, hoàn thiện chính sách cấp bù thủy lợi phí và thực hiện mục tiêu giảm 20% phát thải khí nhà kính quốc gia.

Thứ hai, ban giám đốc các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và tổ chức hợp tác dùng nước. Luận văn cung cấp cẩm nang vận hành trạm bơm 980 m3/h hiệu quả, phương án điều tiết nước luân phiên theo kênh nhánh, giúp cắt giảm trực tiếp 15% đến 25% chi phí tiền điện bơm tưới.

Thứ ba, cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước, Thủy nông, Khoa học môi trường. Tài liệu là nguồn tham khảo mẫu mực về phương pháp bố trí thí nghiệm 50 ha, kỹ thuật lấy mẫu khí buồng kín và phương pháp phân tích mối quan hệ giữa chế độ thủy văn mặt ruộng với hóa sinh thổ nhưỡng.

Thứ tư, các doanh nghiệp nông nghiệp và đơn vị tư vấn dự án tín chỉ carbon. Số liệu định lượng mức giảm khí CH4 trong luận văn là tiền đề khoa học vững chắc để thiết kế các dự án tín chỉ carbon nông nghiệp theo cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường carbon quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Biện pháp tưới khô kiệt khi mực nước rút xuống âm 15 cm có làm sụt giảm năng suất lúa không? Hoàn toàn không làm giảm năng suất. Dữ liệu thực nghiệm trên cánh đồng 50 ha tại Hưng Yên khẳng định việc rút nước xuống -15 cm trong giai đoạn đẻ nhánh và chín sáp kích thích rễ lúa ăn sâu, tăng độ cứng cáp của thân cây. Năng suất lúa tại các ô khô kiệt vẫn đạt 12,8 tấn/ha/năm, thậm chí tăng trưởng từ 2,7% đến 9,0% so với ô tưới ngập liên tục.

Kỹ thuật rút nước mặt ruộng giúp cắt giảm lượng khí mêtan phát thải dựa trên cơ chế nào? Khí mêtan (CH4) chỉ sinh ra trong môi trường yếm khí do vi khuẩn kỵ khí phân giải chất hữu cơ. Khi rút nước cạn mặt ruộng xuống mức -5 cm hoặc -15 cm, không khí tràn vào các khe nứt đất làm tăng thế oxy hóa khử Eh, kích hoạt quá trình khoáng hóa hiếu khí. Điều này ức chế hoạt động sinh khí của vi khuẩn kỵ khí, giúp giảm từ 19,09% đến 31,56% lượng CH4 phát thải toàn vụ.

Lượng nước tưới tiết kiệm được khi áp dụng quy trình quản lý nước mới là bao nhiêu? Quy trình tưới khô ướt xen kẽ giúp cắt giảm từ 20,4% đến 37,5% tổng lượng nước tiêu thụ so với kỹ thuật tưới ngập truyền thống. Định mức nước tưới giảm từ 5.500 - 6.500 m3/ha xuống còn 3.700 - 4.500 m3/ha, giúp tiết kiệm trực tiếp từ 1.200 đến 1.800 m3 nước/ha và giảm từ 2 đến 3 đợt bơm máy trong mỗi vụ canh tác.

Người nông dân cần chuẩn bị những thiết bị gì để theo dõi mực nước ruộng theo quy trình mới? Thiết bị theo dõi rất đơn giản và chi phí thấp. Nông dân chỉ cần dùng ống nhựa PVC đường kính 100 - 150 mm, dài 40 - 50 cm, đục các lỗ nhỏ xung quanh thân ống và chôn sâu xuống ruộng 20 cm. Nông dân chỉ cần quan sát mực nước bên trong ống tụt xuống vạch -5 cm hoặc -15 cm để quyết định thời điểm dẫn nước vào ruộng.

Quy trình quản lý nước cho lúa vụ xuân 110 ngày và lúa vụ mùa 95 ngày có điểm gì khác nhau? Vụ xuân có thời tiết đầu vụ rét ẩm, lượng bốc hơi thấp nên thời gian giữ nước hồi xanh kéo dài hơn (30 ngày), tổng lượng nước cần tưới từ 4.850 đến 7.000 m3/ha. Vụ mùa có nhiệt độ cao và lượng mưa lớn (chiếm 70% tổng lượng mưa cả năm), chu kỳ sinh trưởng ngắn hơn (95 ngày), các đợt rút nước phơi ruộng diễn ra nhanh và tổng mức tưới chỉ từ 3.700 đến 5.400 m3/ha.

Kết luận

  • Xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho mô hình tưới lúa tiết kiệm nước trên diện tích 50 ha tại Đồng bằng sông Hồng.
  • Tiết kiệm từ 20,4% đến 37,5% lượng nước tưới mặt ruộng, giảm tải áp lực khai thác cho hệ thống trạm bơm công suất 980 m3/h.
  • Cắt giảm từ 19,09% đến 31,56% lượng phát thải khí mêtan (CH4), góp phần hiện thực hóa mục tiêu giảm 20% phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp.
  • Nâng cao năng suất lúa bình quân đạt 12,8 tấn/ha/năm, gia tăng lợi nhuận kinh tế từ 3 đến 5 triệu đồng trên mỗi hecta.
  • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật tưới rút nước mặt ruộng chuyên biệt cho lúa vụ xuân 110 ngày và lúa vụ mùa 95 ngày.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp giải pháp kỹ thuật kép vừa giải quyết tình trạng khan hiếm nguồn nước ngọt vừa giảm thiểu khí thải nhà kính bảo vệ môi trường. Trong 6 tháng tới, các cơ quan chuyên môn cần hoàn thiện tài liệu hướng dẫn kỹ thuật hiện trường và mở rộng quy mô trình diễn lên 500 ha trong giai đoạn 2021 - 2023. Các hợp tác xã và hộ nông dân cần chủ động ứng dụng quy trình quản lý nước tiết kiệm để tối ưu hóa chi phí sản xuất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh bền vững.