Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG ĐỐI VỚI NHÀ Ở RIÊNG LẺ 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý Nhà nước về xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ 1. Một số khái niệm 1. Quản lý Nhà nước Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước (Nguyễn Tố Lăng, 2014).
Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.
Như vậy, quản lý nhà nước là các công việc của nhà nước, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước; cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước. Quản lý nhà nước thực chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực 7 hiện thông qua bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý Nhà nước về xây dựng Quản lý nhà nước do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện rất đa dạng, quản lý tổng hợp trên các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng vv.Như vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng là một bộ phận của quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước về xây dựng trước hết có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động quản lý nhà nước nói chung, ngoài ra nó còn có những đặc điểm riêng mà chỉ trong xây dựng mới có, bao gồm: - Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện).
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Đối tượng quản lý nhà nước đối với xây dựng là các hoạt động xây dựng. Theo Luật xây dựng năm 2014, qui định tại Điều 3, khoản 21 thì hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Các công trình xây dựng trên địa bàn, công tác quản lý xây dựng gắn liền với yếu tố vị trí địa lý, thổ nhưỡng đất đai, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như phong tục tập quán ở từng địa 8 phương, thẩm mỹ, khí hậu thời tiết từng khu vực cho đến quy hoạch khu chức năng của từng đô thị….
- Quản lý xây dựng theo một thể thống nhất từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết 1/2000, 1/500. Gắn quy hoạch tổng thể với quy hoạch chi tiết từng đơn vị, quận, phường, thị trấn. - Hoạt động quản lý xây dựng phải phù hợp với đặc điểm và điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm tự nhiên của từng địa phương - Quản lý xây dựng lấy cơ sở pháp lý là các điều luật về xây dựng, quy hoạch- kiến trúc, luật đất đai, luật dân sự… 1. Nhà ở riêng lẻ + Nhà ở Từ xa xưa, ông cha ta đã biết lao động để nuôi sống bản thân, để cuộc sống được ấm no, sung túc và đầy đủ hơn.
Việc xây dựng nhà ở để trú nắng, trú mưa cũng là vấn đề thiết thực trong cuộc sống. Xã hội ngày một phát triển, căn nhà ngoài là nơi để ở, sinh hoạt hằng ngày còn sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm nơi kinh doanh, giải trí, hay là nơi làm công tác xã hội, các dịch vụ công khác. Như vậy, nhà ở có vai trò rất quan trọng đối với mỗi con người. Ngày nay, xây dựng nhà không đơn thuần là để trú nắng, trú mưa mà bên cạnh đó còn thể hiện khả năng tài chính, khiếu thẩm mỹ của chủ gia trong việc thiết kế, xây dựng.
Tuy nhiên, chủ nhà phải tuân thủ theo các yêu cầu về thiết kế, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hoặc các điều kiện khác có liên quan trước hết nhằm bảo đảm an toàn cho chính chủ nhà và mọi người xung quanh, tạo sự cân bằng về kiến trúc, mỹ quan đô thị và qua đó Nhà nước quản lý được tốt hơn. Theo Điều 1 Luật nhà ở năm 2014 thì "Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Theo đó, công trình xây dựng là “sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào 9 công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước”. Cụ thể, một trong những công trình xây dựng trên là công trình xây dựng nhà ở có mục đích để ở.
Hiểu rộng hơn, nhà ở là nơi để trú nắng, trú mưa và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày như làm việc, giải trí, nghỉ ngơi, nơi để ăn uống, tắm giặt, tiếp đón bạn bè, gia đình sum họp. Tóm lại, nhà ở là công trình được xây dựng trên đất, trên bề mặt nước có mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày mà bất cứ ai cũng cần được đáp ứng tối thiểu. + Nhà ở riêng lẻ Theo khoản 2 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 thì “Nhà ở riêng lẻ là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà ở biệt thự, nhà ở liền kề và nhà ở độc lập”. Như vậy, nhà ở riêng lẻ là công trình xây dựng của hộ gia đình, cá nhân trên phần đất ở theo quy định của pháp luật.
Đất ở là phần đất bao gồm diện tích chiếm đất của các công trình nhà ở riêng lẻ và sân vườn, đường dẫn riêng vào nhà ở riêng lẻ đó, không bao gồm đường giao thông chung. Quản lý Nhà nước về xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ Quản lí nhà nước về xây dựng nhà ở riêng lẻ, trước hết cần đảm bảo những qui định trong quản lí nhà nước về xây dựng nói chung, bên cạnh đó, còn cần tuân thủ những qui định cụ thể về xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ (cả ở khu vực đô thị và địa bàn nông thôn), trong đó đặc biệt gắn liền với các hoạt động quản lí về qui hoạch, thiết kế, chất lượng và bảo trì công trình, các điều kiện về cấp phép xây dựng, việc xử lí những vi phạm hành chính trong xây dựng nhà ở riêng lẻ. Như vậy, quản lý nhà nước về xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ là hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đối với 10 công trình nhà ở riêng lẻ xây dựng theo giấy phép xây dựng được cấp, theo quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn đã được duyệt. Các yêu cầu chung về quản lý xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ Theo quy định tại Nghị định 06/2021/NĐ-CP thì việc quản lý xây dựng nhà ở riêng lẻ được thực hiện trên nguyên tắc đảm bảo an toàn cho con người, tài sản, thiết bị, công trình, các công trình lân cận và môi trường xung quanh.
+ Về vấn đề thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân: - Đối với nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân không có tầng hầm, có tổng diện tích sàn xây dựng nhỏ hơn 250 m2 hoặc dưới 3 tầng hoặc có chiều cao dưới 12m, chủ đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ được tự tổ chức thực hiện thiết kế xây dựng công trình; - Đối với nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân dưới 7 tầng hoặc có 01 tầng hầm, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này, việc thiết kế phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật thực hiện; - Đối với nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân từ 7 tầng trở lên hoặc có từ 02 tầng hầm trở lên, hồ sơ thiết kế phải được thẩm tra thiết kế xây dựng về nội dung an toàn công trình trước khi xin cấp giấy phép xây dựng. Việc thiết kế và thẩm tra thiết kế phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật thực hiện. + Về quản lý thi công xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân: - Chủ đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ tổ chức thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng và chịu trách nhiệm về an toàn trong thi công xây dựng công trình.