CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ thì NHTM cũng ngày được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu.
Trên thế giời, mỗi quốc gia lại có khái niệm về NHTM khác nhau nhưng bản chất NHTM vẫn được hiểu là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong những tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Peter Rose (2004, tr.7) đã định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.[1] Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (Quốc hội, 2010) đã định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.[3] Luan van 11 Từ những nhận định trên có thể thấy ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng, cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Chức năng của ngân hàng thương mại Qua hàng trăm năm hình thành, tồn tại và phát triển, các NHTM ngày nay có các chức năng cơ bản sau: - Trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Thông qua việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời của nền kinh tế, ngân hàng thương mại tạo lập nên nguồn quỹ cho vay để cung cấp cho nền kinh tế. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản tiền nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ, được cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện ích cũng như bảo đảm sự an toàn cho chính khoản tiền đó.
Đối với người đi vay, họ có được nguồn vốn phù hợp để đầu tư, kinh doanh hoặc tiêu dùng, thanh toán. Đối với nền kinh tế, chức năng này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế bởi nó đáp ứng nhu cầu vốn để tái sản xuất, tái đầu tư, kích thích quá trình luân chuyển vốn và kích thích sản xuất phát triển. - Trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại sẽ đóng vai trò là người đại diện cho khách hàng tiến hành chi trả, thanh toán các khoản tiền mà khách hàng cần như mua bán, trao đổi,. Nghiệp vụ này được thực hiện thông qua cơ chế như sau: ngân hàng mở tài khoản cho khách hàng, sau đó, trên cơ sở lệnh thanh toán của khách hàng, ngân hàng ghi nợ (trích số dư tài khoản) hoặc ghi có (bổ sung số dư cho tài khoản).
Luan van 12 Các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế. Nhờ chức năng này, ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền mặt trong túi với nhiều rủi ro mà vẫn có thể thực hiện các khoản thanh toán dù ở cách xa nhau hàng trăm, hàng nghìn km. Do vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. - Chức năng tạo tiền: Kinh doanh tín dụng cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác, với mục tiêu cuối cùng vẫn là tạo ra lợi nhuận. NHTM cũng vậy, việc cung cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu và thu về lợi nhuận là tỷ lệ chênh lệch lãi suất gửi vào và cho vay. Chúng ta có thể nói NHTM có chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có thể thực thi chức năng tạo tiền thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Đây chính là một bộ phận của tiền được sử dụng trong các giao dịch thanh toán. Tuy nhiên, quá trình tạo tiền này chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hệ thống NHTM chứ bản thân một ngân hàng không thể tạo ra được. Ngoài ra, NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương quy định áp dụng với NHTM và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng.
Khi ngân hàng trung ương tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc hoặc khách hàng tăng sử dụng tiền mặt để thanh toán thay vì chuyển khoản, khả năng tạo tiền sẽ giảm đi. Vai trò của ngân hàng thương mại Với chức năng của mình, NHTM khẳng định được vai trò của mình đối với các đố tượng như sau: Luan van 13 Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Chúng ta đã biết, yếu tố về vốn vô cùng quan trọng đối với tất cả các tổ chức. Khi nguồn vốn đầy đủ và kịp thời thì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm cũng cao hơn.
NHTM với chức năng trung gian cung cấp nguồn vốn kịp thời cho các tổ chức có nhu cầu. Thứ hai, NHTM là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp nào, dù lớn hay nhỏ, nguồn vốn dồi dào hay ít thì cũng sẽ gặp phải những vấn đề về vốn. Ví dụ như chưa kịp rút tiền ở hạng mục nào đó để kịp đầu tư vào dự án mới.
Việc NHTM là trung gian cung cấp các dịch vụ về tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp có nhu cầu về vốn dễ dàng tiếp cận được nguồn tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp khác. Đồng thời NHTM cũng là tác nhân tạo nên sự minh bạch của thị trường tín dụng với lãi suất, giá cả cạnh tranh. Thứ ba, NHTM là công cụ quản lý nhà nước về kinh tế. Nhà nước thông quan NHTM để điều tiết nền kinh tế như việc điều tiết lãi suất, giảm lạm phát, định giá lại giá trị đồng tiền, quản lý khối lượng tiền mặt lưu thông,.
Khi xảy ra lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, thông qua NHTM thay đổi lượng tiền trong lưu thông, ổn định sức mua của đồng tiền. Hoạt động của NHTM cũng giúp Chính phủ thực thi các chính sách tiền tệ, tạo điều kiện cho những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, đảm bảo an sinh xã hội. Thứ tư, NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Hiện nay, khi mà Việt Nam gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, điều này tạo thuận lợi cho các ngân hàng trong nước phát triển ra thị trường quốc tế và ngược lại, các ngân hàng nước ngoài cũng ngày càng quan tâm và phát triển tại Việt Nam.
Việc này không chỉ khiến dòng tiền, tài chính được lưu thông trong nước mà còn dễ dàng trên toàn thế giới. Ngoài ra, việc các dịch vụ tín dụng cũng ngày một đa dạng hơn bằng các dịch vụ thanh toán, chuyển khoản cả thị trường quốc tế với việc liên kết giữa các ngân hàng. Điều này giúp nền tài chính nước ta kết nối được với nền tài chính quốc tế. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 1.
Nghiệp vụ huy động vốn Trên thực tế, có nhiều người, nhiều tổ chức có những nguồn tiền nhàn rỗi và họ muốn đầu tư sinh lời. Việc huy động vốn chính là việc huy động những nguồn tiền nhàn rỗi này trong khách hàng. Đây cũng là hoạt động quan trọng đối với ngân hàng, nó giống như hoạt động đầu vào, tạo sản phẩm để ngân hàng kinh doanh. Nguồn tiền nhàn rỗi đó có thể là tiền mặt, ngoại tệ, vàng hoặc vật ký gửi nào đó.
Người gửi tiền sẽ có được lợi nhuận từ lãi suất tiền gửi và ngân hàng sẽ có được nguồn tín dụng để kinh doanh và thu lợi nhuận từ sự chênh lệch lãi suất gửi và cho vay. Có thể nói, hoạt động huy động vốn là hoạt động sống còn của một ngân hàng bởi nếu không huy động được vốn, không có tín dụng thì ngân hàng không thể tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình.