phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo; phụ lục; và ba chƣơng của luận văn có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp a ở các trƣờng trung học cơ sở theo hƣớng phát triển năng lực định hƣớng nghề nghiệp cho học sinh. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp ở các trƣờng THCS huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo hƣớng phát triển năng lực định hƣớng nghề nghiệp cho học sinh. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý Hoạt động trải nghiệm, hƣớng nghiệp ở các trƣờng THCS huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo hƣớng phát triển năng lực định hƣớng nghề nghiệp cho học sinh. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƢỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trong lịch sử tiến hoá của nhân loại, cứ mỗi một giai đoạn lại có những tƣ tƣởng giáo dục mới của các nhà giáo dục lỗi lạc. Trong thời đại giáo dục tiên tiến hiện nay, thuật ngữ giáo dục trải nghiệm đã trở nên lỗi thời, tuy vậy, trong những giai đoạn lịch sử trƣớc đó, các nhà giáo dục đã nhắc đến khái niệm trải nghiệm trong tƣ tƣởng giáo dục của mình. Có thể nói nguồn gốc tƣ tƣởng đầu tiên của “Giáo dục trải nghiệm” đã xuất hiện từ thời cổ đại.
Albert Einstein (1879-1955) từng nhận định, nguồn tri thức hình thành từ trải nghiệm. Các nhà giáo dục học hiện đại nhƣ Willingham, Conrad và Hedin, Druism và Owens, Karen Warren cũng đã nghiên cứu về các lý thuyết học tập và mô hình học tập trải nghiệm với quan điểm và các góc độ nghiên cứu khác nhau đã đƣa ra những khái niệm, đặc điểm, cách vận dụng hoạt động trải nghiệm theo các cách thức khác nhau. Có thể nói, các nghiên cứu đều nói lên tầm quan trọng của HĐTN trong việc giúp con ngƣời phát triển toàn diện các kỹ năng. Không những vậy, hoạt động trải nghiệm còn giúp con ngƣời rèn luyện năng lực tƣ duy phản biện, năng lực giao tiếp, hợp tác và sáng tạo.
Trong các mô hình nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm phải kể đến bốn mô hình tiêu biểu của các tác giả John Dewey (mô hình học tập qua kinh nghiệm ), Jean Piaget (mô hình học tập phát triển nhận thức). Với kinh nghiệm của J. Dewey (1859-1952) cho rằng “học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Theo đó, quá trình học tập là hoạt động trí tuệ phức tạp.
Xuyên suốt tƣ tƣởng giáo dục của John Dewey chính sự học tập trong cuộc sống mới là mô hình giáo dục tốt nhất. Vậy nên chúng ta không thể tách quá trình sống và quá trình giáo dục là hai quá trình riêng biệt mà đó chính là một quá trình tổng thể. Trong quá trình sống của con ngƣời, những kinh nghiệm sẽ không ngừng đƣợc thu lƣợm và không ngừng đƣợc cải biến. Học sinh cũng vậy.
Khi học sinh đƣợc giao việc trong quá trình học, các em sẽ không ngừng tiếp thu kinh nghiệm để làm mới tri thức thật. 8 Với luận điểm gốc “Giáo dục chính là bản thân cuộc sống”, John Dewey nhấn mạnh đến khả năng học hỏi, lƣu giữ kinh nghiệm và điều chỉnh kinh nghiệm để hình thành nên kinh nghiệm mới là rất quan trọng. Ông đƣa chủ trƣơng gắn các hoạt động thực tế nhƣ nghề làm vƣờn, nghề dệt, nghề mộc.vào nhà trƣờng nhƣ một loại bài tập hoạt động cho học sinh để phát triển hứng thú và năng lực của học sinh. Vì vậy cần thiết phải tạo ra một môi trƣờng học tập gắn liền với hoạt động trải nghiệm của chính bản thân ngƣời học.
Nhìn chung, tƣ tƣởng giáo dục của John Dewey rất tiến bộ vào thời kì đó, và đến bây giờ tƣ tƣởng giáo dục về “học thông qua làm, học qua trải nghiệm” của ông vẫn là một trong những triết lý giáo dục điển hình của nƣớc Mỹ và nhiều quốc gia khác. Mô hình thứ hai cũng chính là mô hình giáo dục của một nhà tâm lý học ngƣời Thuỵ Sĩ – Jean Piaget (1896-1980): Mô hình giáo dục và phát triển trí tuệ. Theo nhƣ học thuyết của J. Piaget, trí tuệ ở trẻ em thể hiện thông qua các giai đoạn: cảm xúc - hoạt động, tiền thao tác thực tế, thao tác trừu tƣợng, hình thái hay tƣ duy logic.
Ông cũng đƣa ra các lứa tuổi và đặc điểm của từng giai đoạn nhƣ là: - Giai đoạn 1: khi 0 - 3 tuổi, trẻ nhận thức về thế giới là nhờ việc kết hợp thị giác và vận động. - Giai đoạn 2: lúc trẻ từ 3 - 7,8 tuổi, trẻ bắt đầu nhận thức thế giới thông qua các ký hiệu, thậm chí là biểu tƣợng của ngôn từ. - Giai đoạn 3: khi trẻ 7,8 - 11 tuổi, qua các ý nhiệm về các đối tƣợng bên ngoài để trẻ có thể hiểu đƣợc thế giới hơn là các tri giác đơn giản. - Giai đoạn 4: khi trẻ từ 11 - 14,15 tuổi, là giai đoạn tƣ duy logic.
Trí tuệ trẻ trong giai đoạn này đã đạt mức phát triển hoàn chỉnh, trẻ có khả năng phân tích và lý giải các vấn đề rõ ràng, rành mạch. Nhƣ vậy, lý thuyết về sự phát triển nhận thức ở trẻ em đƣợc phản ánh rõ trong những hoạt động trải nghiệm với các hoạt động cụ thể. Lý thuyết phát triển nhận thức của Piaget đề cập đến những thay đổi trong quá trình và khả năng nhận thức. Theo quan điểm của Piaget, sự phát triển nhận thức ban đầu bao gồm các quá trình dựa trên các hành động và sau đó tiến triển đến những thay đổi trong hoạt động trí óc.
Thông qua đó, GV có thể đƣa ra đƣợc các biện pháp đơn giản và hiệu quả trong quá trình dạy học. 9 Cũng giống nhƣ Piaget, Vygotsky (1896-1934) – nhà tâm lý học Liên Xô, ngƣời sáng lập lý thuyết về phát triển văn hóa và sinh học-xã hội của con ngƣời, nhấn mạnh rằng trẻ em rất tích cực xây dựng kiến thức và hiểu biết của mình. Trong lý thuyết của Vygotsky, trẻ em thƣờng đƣợc mô tả là những sinh vật có tính xã hội nhiều hơn trong lý thuyết của Piaget. Ông cho rằng, trong môi trƣờng giáo dục cần coi trọng sự khám phá của bản thân học sinh và cũng rất cần có sự trợ giúp của giáo viên và sự hợp tác của các bạn cùng lứa tuổi với trẻ là rất quan trọng.
Sự quan sát tỉ mỉ kết hợp với những khám phá của bản thân sẽ giúp trẻ có những hiểu biết mới về chính bản thân cũng nhƣ các hành động và lời nói của ngƣời giáo dục và đối tác trò chuyện. Sau đó, trẻ chuyển thông tin ấy vào nội tâm, sử dụng nó để hƣớng dẫn hay điều chỉnh sự thực hành của chính mình. Khi chuyển từ Piaget sang Vygotsky, sự thay đổi về mặt khái niệm là từ cá nhân sang hợp tác, tƣơng tác xã hộ và hoạt động văn hóa xã hội (Daniel, 2017). Điểm cuối của sự phát triển nhận thức đối với Piaget là tƣ duy thao tác chính thức.
Đối với Vygotsky, điểm cuối có thể khác nhau tùy thuộc vào kỹ năng nào đƣợc coi là quan trọng nhất trong một nền văn hóa cụ thể. Trong lý thuyết của Piaget, trẻ em xây dựng kiến thức bằng cách biến đổi, sắp xếp và tổ chức lại kiến thức đó. Theo quan điểm của Vygotsky, trẻ em xây dựng kiến thức thông qua tƣơng tác xã hội. Ý nghĩa của lý thuyết Piaget đối với việc giảng dạy là trẻ em cần đƣợc hỗ trợ để khám phá thế giới của trẻ và khám phá kiến thức.
Hàm ý chính của lý thuyết Vygotsky đối với việc giảng dạy học sinh cần có nhiều cơ hội để học hỏi với giáo viên và những bạn học giỏi hơn. Trong cả hai lý thuyết của Piaget và Vygotsky, giáo viên đóng vai trò là ngƣời hỗ trợ và hƣớng dẫn, chứ không phải là ngƣời chỉ huy và ngƣời định hƣớng việc học. Trong quá trình học tập, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo sẽ dần đƣợc hình thành thông qua hoạt động học tự chủ khám phá của học sinh. Với cách tƣơng tác xã hội nhƣ vậy và với sự đối thoại hợp tác hay cộng tác sẽ thúc đẩy sự phát triển nhận thức của trẻ.
David Kolb (sinh năm 1939), đã nghiên cứu và cho rằng việc học đòi hỏi phải tiếp thu các khái niệm trừu tƣợng để sau đó có thể áp dụng linh hoạt trong nhiều tình huống. Do đó, kiến thức đƣợc tạo ra thông qua sự biến đổi của kinh nghiệm (Trích “Experiential Learning: Experience as the Source of Learning and Development – David A. Kolb”) Lý thuyết của Kolb xây dựng trên bốn giai đoạn chính của quá trình học tập: 10 - Kinh nghiệm cụ thể (Concrete Experience - CE): Đây là giai đoạn mà ngƣời học trải nghiệm trực tiếp thông qua hoạt động thực tế hoặc trải nghiệm cá nhân. Kinh nghiệm này có thể làm nảy sinh nhiều cảm xúc và ấn tƣợng đầu tiên.
- Quan sát và suy nghĩ (Reflective Observation - RO): Sau khi có kinh nghiệm, ngƣời học tiến hành quan sát và suy nghĩ về những gì đã xảy ra cũng nhƣ đánh giá về các sự kiện và cảm nhận của mình. - Lý thuyết hóa (Abstract Conceptualization - AC): Ở giai đoạn này, ngƣời học cố gắng xây dựng một lý thuyết hoặc khung kiến thức để giải thích hoặc hiểu các trải nghiệm của họ. Họ tìm kiếm các nguyên tắc tổng quát hoặc kiến thức trừu tƣợng. - Thực hành (Active Experimentation - AE): Cuối cùng, ngƣời học áp dụng kiến thức và lý thuyết của họ vào tình huống mới hoặc thực tế.
Họ thử nghiệm các ý tƣởng và kiến thức để xem chúng hoạt động nhƣ thế nào trong thực tế. Kinh nghiệm cụ thể Thử Quan sát và nghiệm đối chiếu, trong tình Hình phân tích thành khái niệm trừu tƣợng Mô hình học tập trải nghiệm Kolb Vai trò của mô hình này trong giáo dục và phát triển cá nhân rất quan trọng và có thể đƣợc đánh giá nhƣ sau: Tạo điểm khởi đầu cho học tập: Mô hình Kolb giúp ngƣời học bắt đầu quá trình học tập bằng cách trải nghiệm một tình huống cụ thể. Điều này giúp tạo ra một nền tảng cho việc học các kiến thức mới; Khuyến khích học tập chủ động: Mô hình này thúc đẩy sự tƣơng tác tích cực của ngƣời học với nội dung học tập. Ngƣời học không chỉ đơn thuần nhận thông tin, mà còn phải suy ngẫm và áp dụng kiến thức vào thực tế; Phát triển kỹ năng phân tích và tự đánh giá: Quá trình quan sát và suy tƣởng trong mô hình Kolb khuyến khích ngƣời học xem xét những gì họ đã trải qua và cách họ đã học từ những trải nghiệm đó.