Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm * Quản lý Quản lý là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực. Mặt pháp lý của quản lý bao gồm hệ thống luật pháp điều chỉnh nền kinh tế xã hội. Mặt tâm lý xã hội của quản lý điều chỉnh toàn bộ hành vi quản lý của con người.
Do đó, không có quản lý chung chung mà bao giờ nó cũng gắn với một lĩnh vực, một ngành nhất định. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân thì quản lý có nghĩa “chăm nom và sắp đặt mọi công việc trong một tổ chức” [26, tr 1483]. Giáo sư Mai Văn Khuê đã định nghĩa: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [24, tr 68]. Quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.TS Bùi Hoài Sơn: “Để tiến hành công việc quản lý chúng ta phải dựa vào các phương tiện và chính sách về pháp luật, tài chính, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực .để đạt được mục tiêu quản lý đề ra” [11, tr 10].
“Quản lý bảo tàng là một yếu tố sống còn trong quá trình phát triển và tiến bộ của bảo tàng. Nếu không có cơ chế quản lý thích hợp, các bảo tàng không thể có được sự chăm sóc và sử dụng hợp lý các sưu tập hiện vật, bảo tàng cũng không thể duy trì và khuyến khích được phần trưng bày và một 13 chương trình giáo dục có hiệu quả đồng thời dễ dàng đánh mất mối quan tâm và niềm tin của công chúng đối với bảo tàng”[10, tr 43 - 44]. “Một hệ thống quản lý tốt nhất có hai bậc quản lý: Ban lãnh đạo - nơi quyết định về các chính sách của bảo tàng và người lãnh đạo cùng các nhân viên của họ, người vừa có vấn cho ban lãnh đạo vừa đưa các chính sách của ban lãnh đạo vào thực tiễn hoạt động”[49, tr 445 - 446]. Người quản lý bảo tàng muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, ít nhất cần chú ý thực hiện ba nhiệm vụ cực kỳ quan trọng: Một là có chính sách phát triển bảo tàng; hai là có chính sách quản lý nhân lực, đào tạo công chức ; ba là có chính sách quản lý hiện vật trong bảo tàng.
Bởi vì, quản lý bảo tàng là phải lập ra chính sách phát triển bảo tàng và “chính sách phát triển bảo tàng phải bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động của bảo tàng với nghĩa rộng nhất” [49, tr 449]. * Bảo tàng Bảo tàng là một thiết chế văn hóa, mặc dù nội hàm không rộng như khái niệm văn hóa, nhưng có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo tàng. Trên thế giới, mỗi quốc gia đều có định nghĩa riêng về bảo tàng. Các nhà bảo tàng học Pháp chấp nhận cho đến nay, “Bảo tàng là một cơ quan không thay đổi được xây dựng với quyền lợi của xã hội để giữ gìn quản lý, cho phép hội thảo khoa học để tuyên truyền và chủ yếu đặt ra một quần thể toàn diện, hạn chế hay phát triển không ngừng với những nhân tố quý báu cho văn hóa”[55, tr 47].
Trong cuốn từ điển thuật ngữ bảo tàng của Viện Bảo tàng Cách mạng TW Liên Xô (1986) có định nghĩa: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu khoa học và văn hóa - giáo dục, căn cứ vào chức năng của mình, bảo tàng tiến các hoạt động sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, nghiên cứu và giáo dục thật rộng rãi các di tích lịch sử văn hóa và các đối tượng về thiên nhiên. Xuất phát từ các đặc 14 điểm của mình, bảo tàng trở thành một lĩnh vực đặc biệt của ngành văn hóa, mà ở đó tạo cơ sở để hình thành các giá trị tinh thần thông qua hoạt động của con người và thiên nhiên, trong hoạt động bảo tàng các phương pháp và thủ pháp thể hiện mỹ thuật luôn luôn quyện với nhau một cách hữu cơ [55, tr 47, 48]. Hội đồng Bảo tàng Quốc tế ICOM đã xây dựng, thống nhất một định nghĩa chung về bảo tàng và liên tục sửa đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Vào năm 1946: Thuật ngữ bảo tàng bao gồm tất cả các sưu tập trưng bày phục vụ công chúng: các hiện vật về nghệ thuật, kỹ thuật, khoa học, khảo cổ học và kể những vườn thú,vườn thực vật, không tính đến thư viện, ngoại trừ những thư viện có phòng trưng bày thường trực.
Năm 1951: Từ bảo tàng dùng để chỉ mọi thiết chế thường trực, hoạt động vì mục tiêu chung nhằm gìn giữ, nghiên cứu, phát huy giá trị bằng mọi hình thức, đặc biệt là trưng bày, giới thiệu tới công chúng vì nhu cầu giải trí các hiện vật và mẫu vật có giá trị văn hóa: các sưu tập nghệ thuật, lịch sử, khoa học và kỷ thuật, các vườn động thực vật và bể cá. Các thư viện công cộng, các kho lưu trữ công cộng có phòng trưng bày thường trực có thể được coi là các bảo tàng. Năm 1961: Bảo tàng là một thiết chế thường trực, bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật có ý nghĩa văn hóa hoặc khoa học vì mục tiêu nghiên cứu, giáo dục và giải trí.Năm 1974: Bảo tàng là một thiết chế thường trực phi lợi nhuận, phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội, sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và giới thiệu những bằng chứng vật chất của con người và môi trường của nó vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức. Năm 1995: Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận hoạt động lâu dài, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa cho công chúng đến 15 xem, có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, giới thiệu và trưng bày các bằng chứng vật chất về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức.
Năm 2004, Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên mở cửa cho công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội. Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức. Ở Việt Nam song song với việc sử dụng định nghĩa của ICOM còn sử dụng định nghĩa về bảo tàng của các nước khác như sau: theo Hội bảo tàng Anh “Bảo tàng là thiết chế thu thập, tư liệu hóa, gìn giữ, trưng bày và giới thiệu những bằng chứng vật chất và thông tin liên quan vì lợi ích của công chúng” [49, tr 15]. Bảo tàng học Trung Quốc: “Bảo tàng là cơ quan chủ yếu sưu tầm và bảo quản các văn vật và tiêu bản, cơ quan tuyên truyền giáo dục, cơ quan nghiên cứu khoa học, là bộ phận hợp thành quan trọng của sự nghiệp văn hóa khoa học xã hội chủ nghĩa của nước ta”[37, tr 70].
Bảo tàng học Liên Bang Nga: “Bảo tàng là thể chế đa chức năng được hình thành một cách lịch sử của các ký ức xã hội, nhờ đó thực hiện được nhu cầu xã hội về tuyển chọn, bảo quản và miêu tả nhóm đặc biệt các đối tượng văn hóa và tự nhiên, được xã hội công nhận là một giá trị được kế truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”[7, tr 229]. Luật di sản Văn hóa của Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 đưa ra định nghĩa bảo tàng như sau: “Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người, môi trường sống của con người nhằm phục 16 vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng” [29, tr 35]. Định nghĩa về bảo tàng đã có nhiều thay đổi, gắn với bối cảnh, sự nhận thức cũng như mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa bảo tàng với xã hội vì thế bảo tàng ra đời do nhu cầu của xã hội và càng ngày đổi mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội. * Công chúng “Công chúng xã hội là một khái niệm rất rộng, là một tập hợp quần chúng nhân dân đông đảo và phức tạp.
Những người đến bảo tàng hoặc từng đến bảo tàng tham quan đều là khách tham quan của bảo tàng. Tập hợp quần chúng này do những người có lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, hứng thú, yêu thích.khác nhau hợp thành” [37, tr 418]. Trong lĩnh vực bảo tàng, công chúng hàm ý chỉ các đối tượng khách trực tiếp hoặc gián tiếp tham quan bảo tàng. Công chúng là khái niệm rộng, bộ phận công chúng đến tham quan bảo tàng là khách tham quan.
Khách tham quan là bộ phận quần chúng rộng rãi, cấu thành bộ phận này không giống nhau về tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ.Xu hướng phục vụ xã hội và phát triển xã hội của bảo tàng quyết định ở sự phản hồi của công chúng, mà nhu cầu công chúng là đại biểu cho xu hướng phát triển của xã hội. Vì thế, công chúng vừa là đối tượng, vừa là thước đo phản ánh sự thẩm định xã hội đối với mọi hoạt động của bảo tàng. Để phát triển năng động các hoạt động của bảo tàng đặc biệt hoạt động giáo dục, hướng tới những nhóm khách tham quan bảo tàng khác nhau, cần phải nghiên cứu công chúng tham quan bảo tàng nhằm mục đích có hướng tiếp cận với những hình thức cụ thể. Có thể định nghĩa “công chúng bảo tàng là tổng thể tất cả khách tham quan bảo tàng, bao gồm cả những nhóm người, mà theo những nguyên nhân này hay khác, không được lôi cuốn vào vòng 17 hoạt động của bảo tàng nhưng là những người tiềm năng đến thăm trong tương lai”[7, tr 428].
* Tiếp thị và tiếp thị bảo tàng Tiếp thị (Marketing) là một ngành khoa học phát triển song song với sự phát triển của thương mại, là quá trình tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ với khách hàng. Marketing có nguồn gốc từ thuật ngữ “market” có nghĩa là chợ, thị trường, nơi trao đổi hàng hóa. Vào những năm cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, kinh tế hàng hóa của một số nước tư bản phát triển mạnh mẽ, khối lượng hàng hóa sản xuất ra ngày một nhiều.