phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có kết cấu 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khung lý luận về hoạt động ngân hàng ngầm tại Việt Nam Chƣơng 2: Kinh nghiệm quản lý hoạt động ngân hàng ngầm tại một số nƣớc trên thế giới Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm về quản lý hoạt động ngân hàng ngầm cho Việt Nam 11 CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG NGẦM 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động ngân hàng ngầm 1. Khái niệm hoạt động ngân hàng ngầm Shadow banking đƣợc dịch một cách đơn giản theo Tiếng Anh đó là: Ngân hàng ngầm, ngân hàng bóng, ngân hàng trong bóng tối, ngân hàng song hành … Theo Mr Paul McCulley, công ty PIMCO, vào năm 2007, phát biểu ở Jackson Hole, Wyoming:“Ngân hàng ngầm chủ yếu ám chỉ đến những định chế tài chính phi ngân hàng ở Mỹ có sử dụng sự dịch chuyển kỳ hạn (maturity transformation), Trong khi các ngân hàng thương mại thì thực hiện việc chuyển đổi kỳ hạn bằng việc sử dụng tiền gửi ngắn hạn để tài trợ các khoản vay dài hạn, thì ngân hàng ngầm thì thực hiện điều đó tương tự, họ huy động ( chủ yếu là vay ) các quỹ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và sử dụng để mua tài sản có kỳ hạn dài hơn. Nhưng do không phải tuân thủ quy định theo sự quản lý như đối với ngân hàng truyền thống, họ không thể vay trong trường hợp khẩn cấp từ FED.5] Thông qua việc nghiên cứu các quan điểm trên có thể đi đến khái quát về hoạt động ngân hàng ngầm đó là: Hoạt động ngân hàng ngầm là hình thức tín dụng phi truyền thống đƣợc thực hiện bởi các định chế tài chính, thực hiện hoạt 12 động huy động vốn và cho vay tƣơng tự nhƣ ngân hàng truyền thống nhƣng không chịu sự kiểm soát của ngân hàng trung ƣơng.
Nghiên cứu về lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng ngầm đã bắt đầu đƣợc hình thành từ những năm 70 thế kỷ trƣớc dƣới dạng các quỹ mở, thực hiện huy động vốn từ công chúng với lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng và đầu tƣ vào chứng khoán nợ có độ an toàn cao gồm tín phiếu chính phủ Mỹ và thƣơng phiếu của các công ty lớn. Sự ra đời của các công cụ phái sinh dƣới dạng chứng khoán có bảo đảm là các khoản vay của các ngân hàng thƣơng mại và trái phiếu có thời hạn còn lại dài vào giai đoạn 1987 – 1988, đánh dấu một bƣớc tiến lớn của hệ thống ngân hàng ngầm. Hoạt động chứng khoán hóa các khoản vay và các công cụ nợ dài hạn tại các thị trƣờng tài chính phát triển đƣợc đẩy mạnh, tạo thanh khoản cho các danh mục và các khoản vay dài hạn của ngân hàng mà trƣớc đây thanh khoản rất thấp mà từ đó tạo nguồn vốn mới cho hệ thống tài chính.1] Trƣớc khủng hoảng cho vay dƣới chuẩn năm 2008 tại Mỹ, hệ thống tài chính của Mỹ đã đƣợc chia làm hai nhánh: là các ngân hàng thƣơng mại truyền thống và các ngân hàng đầu tƣ. Nhánh thứ 2 là các ngân hàng đầu tƣ còn mở rộng hoạt động sang khu vực cho vay thƣơng mại thông qua việc chứng khoán hóa các khoản vay truyền thống để từ đó tạo vốn cho các chu kỳ tín dụng mới, hình thành nên loại hình hệ thống ngân hàng ngầm hay là những định chế tài chính hoạt động song hành với hệ thống ngân hàng chính thống, nhƣng ở ngoài khuôn khổ giám sát của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi (FDIC).
Sự phát triển của những dịch vụ của hệ thống ngân hàng ngầm diễn ra khá nhanh và mạnh bởi lý do các ngân hàng chính thống đang bị kiểm soát và siết 13 chặt bởi sự thua lỗ trong khủng hoảng tài chính và những quy định từ cơ quan quản lý, cùng với yêu cầu về vốn tối thiểu nâng lên và những khoản phạt rất lớn. Trong bối cảnh khó khăn sau cuộc khủng hoảng, các ngân hàng truyền thống buộc phải cắt giảm hoạt động cho vay, dừng một số mảng hoạt động khác không cần thiết. Và từ đó ngân hàng ngầm xuất hiện để lấp đầy những khoảng trống này. Khảo sát về quy mô hệ thống ngân hàng ngầm, báo cáo của cơ quan giám sát ổn định tài chính FSB (2018) , thì kết thúc năm 2016, cuộc điều tra đƣợc tiến hành ở 29 nƣớc/lãnh thổ và chủ yếu là các nƣớc thuộc nhóm G20.
Số liệu thống kê cho thấy tỉ lệ hoạt động ngầm trên GDP đã tăng từ 62% vào năm 2011 lên 73% vào năm 2016; quy mô hệ thống ngân hàng ngầm ở Mỹ vẫn là lớn nhất, chiếm đến 31% (trên tổng số 29 nƣớc/ lãnh thổ đƣợc điều tra). Nguồn: Báo cáo của FSB năm 2017 và 2018 Biểu đồ 1.1: Quy mô hệ thống ngân hàng ngầm tại Mỹ và Eurozone năm 2015, 2016 ( tỷ USD ) Quy mô hệ thống ngân hàng ngầm ở các khu vực đƣợc khảo sát đạt mức 45.200 tỷ USD vào năm 2016 tại 29 nƣớc và vùng lãnh thổ, tăng trung bình 7,6%.3] 14 Quy mô các hệ thống ngân hàng ngầm lớn nhất 16000 14000 12000 10000 8000 6000 4000 2000 0 Quy mô hệ thống ngân hàng ngầm Mỹ Eurozone Trung Quốc Quần đảo Cayman Nhật Bản Nguồn: Báo cáo của FSB năm 2018 Biểu đồ 1.2: Quy mô các hệ thống ngân hàng ngầm lớn nhất thế giới năm 2017 (tỷ USD) Là nền kinh tế lớn nhất thế giới song Mỹ cũng là nƣớc có hệ thống ngân hàng ngầm lớn nhất toàn cầu với tổng giá trị vào khoảng 14. 8 nƣớc/lãnh thổ Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đứng thứ hai với 10.100 tỷ USD; tiếp theo là Trung Quốc với 7.000 tỷ USD; Quần đảo Cayman với 4.700 tỷ USD; Nhật Bản với 2. Đặc điểm của hoạt động ngân hàng ngầm Nhƣ nghiên cứu ở phần đầu tiên, hoạt động ngân hàng ngầm về cơ bản cũng thực hiện hoạt động huy động vốn và cho vay tƣơng tự nhƣ nghiệp vụ ngân 15 hàng truyền thống song không chịu sự kiểm soát của ngân hàng trung ƣơng và cũng do đó không nhận đƣợc sự cứu trợ của ngân hàng trung ƣơng nhƣ một cứu cánh cho vay cuối cùng trong trƣờng hợp mất khả năng thanh khoản.
Đặc điểm cơ bản của hoạt động ngân hàng ngầm đó là thực hiện các nghiệp vụ huy động, tín dụng nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng trung ƣơng cũng nhƣ chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, ngân hàng ngầm cũng có những vai trò cung ứng vốn tƣơng tự nhƣ ngân hàng thƣơng mại truyền thống do đó nó vẫn đang tồn tại song hành cùng hệ thống ngân hàng truyền thống tại rất nhiều quốc gia. Theo Cục dữ trữ liên bang Mỹ (2010) [16, tr.2], hoạt động ngân hàng ngầm trƣớc tiên là có những đặc điểm của ngân hàng truyền thống nhƣ: - Dịch chuyển kỳ hạn (maturity transformation): lấy nguồn tiền ngắn hạn đi đầu tƣ vào các tài sản dài hạn. - Dịch chuyển thanh khoản (liquidity transformation): đây là khái niệm tƣơng tự nhƣ dịch chuyển kỳ hạn, nhƣng chi tiết hơn là sử dụng các khoản nợ giống nhƣ tiền mặt (thanh khoản cao) để mua các tài sản rất khó bán đi (thanh khoản thấp hơn) nhƣ các khoản tín dụng.
- Đòn bẩy (leverage): vay mƣợn thêm tiền để mua tài sản nhằm khuếch đại lợi nhuận đầu tƣ tiềm năng. - Chuyển rủi ro tín dụng (credit risk transfer): chuyển rủi ro ngƣời đi vay bị vỡ nợ từ ngƣời cho vay ban đầu sang ngƣời khác. Tuy nhiên, do sự đặc thù của mình mà ngân hàng ngầm có các đặc điểm riêng nhƣ sau: - Có độ minh bạch rất thấp về các loại tài sản sở hữu và giá trị tài sản. Các tổ chức có hoạt động ngân hàng ngầm do ít chịu sự quản lý của cơ quan quản lý và thực hiện chế độ báo cáo nhƣ các ngân hàng truyền thống nên 16 khi xem xét đánh giá về các loại tài sản sở hữu cũng nhƣ giá trị tài sản tại các tổ chức này có độ minh bạch rất thấp.
- Ít bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý so với ngân hàng truyền thống. Đối với các ngân hàng truyền thống, trong quá trình hoạt động của mình, mọi thứ đều đã đƣợc ràng buộc với các quy định pháp lý. Còn đối với tổ chức có hoạt động ngân hàng ngầm có thể đã có một số quy định nhƣng về cơ bản là chƣa có các quy định pháp lý tập trung, cụ thể nhƣ là những bộ luật quy định về hoạt động ngân hàng ngầm. - Không hề có đủ nguồn vốn để hấp thụ các khoản lỗ và không đủ tiền mặt để hoàn trả.
Đối với các ngân hàng truyền thống, với nguồn vốn đƣợc huy động từ tiền gửi nên rất dồi dào và bền vững, trong khi đó với tổ chức có hoạt động ngân hàng ngầm do quy định không đƣợc huy động tiền gửi, tổ chức này tiến hành huy động hoặc vay từ các quỹ ngắn hạn để đầu tƣ tài sản dài hạn hơn, nên trong trƣờng hợp kinh doanh lỗ, họ không có đủ nguồn vốn để hấp thụ các khoản lỗ này và cũng không đủ tiền mặt để hoàn trả. - Không tiếp cận đƣợc các kênh hỗ trợ thanh khoản chính thức. Thông thƣờng đối với các ngân hàng chính thống, việc tiếp cận kênh hỗ trợ thanh khoản chính thức là hết sức đơn giản, và đã đƣợc luật quy định. còn đối với tổ chức có hoạt động ngân hàng ngầm nằm ngoài khung quản lý của cơ quan nhà nƣớc nên họ không tiếp cận đƣợc với các kênh hỗ trợ thanh khoản chính thức nhƣ các khoản vay ngân hàng trung ƣơng.
Tiêu chí nhận diện hoạt động ngân hàng ngầm Dƣới góc độ quản lý, việc nhận diện hoạt động ngân hàng ngầm là hết sức quan trọng và cần thiết, tác động rất lớn tới công tác quản lý tại các quốc gia, 17 nhƣng việc nhận diện vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn. Dựa trên quan điểm FSB (2013) về ngân hàng ngầm: “Là hệ thống trung gian tín dụng bao gồm các tổ chức cùng các hoạt động nằm ngoài hệ thống ngân hàng thông thƣờng”, đồng thời cơ quan giám sát ổn định tài chính FSB đã đƣa ra bộ tiêu chí nhận diện hoạt động ngân hàng ngầm nhằm giúp các nƣớc xác định rõ các trung gian tài chính tham gia vào hoạt động ngân hàng ngầm. Nhóm tiêu chí này cũng đƣợc áp dụng ở nhiều quốc gia. Cụ thể [1, tr.46]: (1) Hoạt động mang bản chất tín dụng Các tổ chức này cần thực hiện một số hoạt động mang bản chất tín dụng của các ngân hàng truyền thống nhƣ huy động vốn, cho vay.