phần mở đầu, giải thích, ví dụ và kết thúc. Trong khi đó, trong các chiến lược cảm xúc, các giảng viên chia sẻ các chiến lược phổ biến, cụ thể là sử dụng cử chỉ không lời và sử dụng các câu chuyện cười để thu hút sự tham gia, tăng động lực học tập của sinh viên và tạo môi trường học tập thuận lợi. Sau đó, về mặt quản lý chiến lược, giảng viên quyết định chủ đề, kiểm soát hoặc chuyển chủ đề thảo luận, cho thời gian thảo luận và tạo cơ hội cho sinh viên phát biểu để tạo điều kiện cho sinh viên bày tỏ ý tưởng của mình và tham gia vào các bài giảng. Lãnh đạo và quản lý việc học tập và giảng dạy trong giáo dục đại học (Leading and managing learning and teaching in higher education, 2011), nghiên cứu cho thấy có sự thống nhất giữa các quan niệm học thuật về vai trò của các nhà lãnh đạo và quản lý trong giáo dục đại học và những quan niệm được tìm thấy trong các bối cảnh khác.
Ngược lại, có sự khác biệt đáng kể giữa những quan niệm này với các hoạt động phát triển nhân sự và chuyên môn, đây là những phát hiện có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển chuyên môn một cách hệ thống và rõ ràng 13 hơn cho các nhà lãnh đạo và quản lý giảng dạy và học tập của trường Đại học. Ngoài ra, tác giả cũng lập luận rằng cần phải có những thay đổi trong hệ thống và chính sách nhân sự hiện tại để phát triển, hỗ trợ và công nhận các phương thức lãnh đạo và quản lý hiệu quả liên quan đến việc học tập và giảng dạy. Theo Ủy ban quốc tế về giáo dục tại thế kỷ XX của UNESCO (1996) đã khẳng định “Thầy/cô giáo là yếu tố quyết định hàng đầu về chất lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải pháp triển đội ngũ giảng viên về cả số lượng và chất lượng”, đồng thời đưa ra một số dẫn chứng của các quốc gia có nền giáo dục phát triển cụ thể như sau: Tại Pakisran có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy định trong thời gian 3 tháng gồm các nội dung như: giáo dục nghiệp vụ dạy học, cơ sở tâm lý giáo dục, phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét người học… đối với đội ngũ giảng viên mới vào nghề chưa quá 3 năm.
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người trong xã hội. Ở Pháp, đây là một quốc gia có nền giáo dục phát triển ở Châu Âu, đã xây dựng 49 nguyên tắc mới cho giáo dục. Trong đó đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên; mỗi giáo viên, giảng viên được hưởng ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo hàng năm. Tăng cường làm việc nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau.
Như vậy, trong giới hạn nghiên cứu mà tác giả tìm hiểu được, có thể thấy rằng ở các nước trên thế giới từ những nước có nền giáo dục phát triển đến các những nước có nền giáo dục đang phát triển thì công tác quản lý, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên đều được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm. Tình hình nghiên cứu trong nước Quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên nói 14 riêng là một chủ đề rộng và thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, do đó số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này là khá nhiền và đa dạng, được thể hiện ở nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về cả lý luận lẫn thực tiễn. Trong giới hạn tìm hiểu của mình, tác giả cũng đã tìm hiểu được một số kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên theo các hướng như sau: Hướng thứ nhất, quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên được thể hiện qua đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Nền giáo dục của Việt Nam trước hết phải nói đến quan điểm phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã khẳng định rằng “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Cùng với việc kế thừa tinh hoa tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã để lại nền tảng lý luận về: Vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục, các nguyên lý dạy học, phương thức dạy học và vai trò của cán bộ quản lý, phương pháp lãnh đạo và quản lý…đây là hệ thống các tư tưởng, quan điểm cốt lõi có giá trị cao trong quá trình phát triển các lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền Cách mạng Việt Nam. Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động trọng tâm của nhà trường, hoạt động này diễn ra trong suốt năm học vì vậy công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên là một vấn đề quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng giảng dạy của nhà trường và KQHT của sinh viên. Đây là công tác luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo đầu tư và được đề cập trong các cuộc họp Quốc hội, Hội nghị Trung ương Đảng, được thể hiện qua nhiều Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị cụ thể như: Chỉ thị số 40/2004/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban chấp hành Trung ương về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng chính phủ ban 15 hành điều lệ trường đại học. Chỉ thị số 1737/CT-BGDĐT ngày 07/05/2018 về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao đạo đức nhà giáo. Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 18/01/2019 của Thủ tướng chỉnh phủ về việc Phê duyệt đề án nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 - 2030. Điều 18 của Luật giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/06/2019 còn khẳng định: “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục” (tr.
Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT ngày 18/03/2021 về việc ban hành quy chế đào tạo trình độ đại học. Hướng thứ hai, tập trung nghiên cứu theo hướng tiếp cận chức năng quản lý (lập kế hoạch - tổ chức thực hiện - chỉ đạo thực hiện - kiểm tra, đánh giá) Tiêu biểu có Hà Thị Ngọc Thương (2012), đã chỉ ra rằng công tác quản lý phân công giảng dạy, quản lý đổi mới phương pháp, phương tiện giảng dạy, quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT sinh viên của giảng viên góp phần quản lý hoạt động giảng dạy của nhà trường diễn ra hiệu quả. Tuy nhiên, việc quản lý và thực hiện những kế hoạch đã đề ra vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến chất lượng quản lý cũng như chất lượng giảng dạy của giảng viên còn bất cập đến từ nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản có hai nguyên nhân chính đó là cán bộ quản lý chưa được đào tao qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và thu nhập của giảng viên còn thấp ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý hoạt động giảng dạy. Theo Nguyễn Hữu Luyến (2013), quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên là một yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực lao động chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn một cách có hệ thống, bài bản liên quan đến lý luận quản lý, quản lý 16 giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý hoạt động giảng dạy. Đồng thời tác giả cũng cho rằng việc xây dựng được các biện pháp tích cực chỉ đạo hoạt động chuyên môn, thực hiện có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên tại Trường là điều rất cần thiết. Hướng thứ ba, nghiên cứu làm rõ các thực trạng về quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên hiện nay Tiêu biểu có Phạm Quốc Trường (2018), trong nghiên cứu đã đưa ra năm thực trạng tiêu biểu trong quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên như sau: - Thực trạng quản lý chương trình đào tạo, đề cương chi tiết (ĐCCT) các học phần của các khoa; - Thực trạng quản lý hoạt động của các bộ môn trong nhà trường; - Thực trạng quản lý công tác KT - ĐG kết quả hoạt động giảng dạy của giảng viên; - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tài trường; - Thực trạng quản lý cơ sở vật chất - thiết bị hỗ trợ giảng dạy. Phạm Thị Thanh Dung (2021), tác giả đã nghiên cứu 7 thực trạng trong quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên bao gồm: Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên; Thực trạng quản lý công tác phân công giảng dạy của giảng viên; Thực trạng quản lý việc chuẩn bị kế hoạch giảng dạy của giảng viên; Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện giảng dạy của giảng viên; Thực trạng quản lý đổi mới PPGD của giảng viên; Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của giảng viên đối với học viên và Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giảng viên.
Hướng thứ tư, nghiên cứu các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên. Hoàng Hồng Sơn (2013), cho rằng tình trạng thiếu hụt giảng viên yêu nghề, 17 nhiệt huyết và kinh nghiệm giảng dạy, đời sống giảng viên còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học thiếu hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu, chất lượng dạy học không đồng đều, năng lực và trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý còn hạn chế, đồng thời thiếu sự động viên, quan tâm, chia sẻ của Ban giám hiệu Nhà trường là những nguyên nhân gây ảnh hưởng lớn đến quản lý chất lượng giảng dạy của giảng viên hiện nay.