Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CUA QUAN LÝ DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỎ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu dạy học theo định hương giáo dục STEM Một số tác giả có ý kiến rằng: dé đạt được hiệu quả trong việc t6 chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực cần phải sử dụng đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để từ đó giúp cho người học thực hành, vận dụng kiến thức linh hoạt trong mọi tình huống. Ngược lại, nếu trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa tô chức được các hoạt động học tập phù hợp và hiệu quả thì không thể hình thành được những năng lực mong muốn ở học sinh — một điều quan trọng mà dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực hướng tới [5].
Tác giả Nguyễn Công Khanh có ý kiến rằng: Đánh giá năng lực không chỉ là việc đánh giá hành động trong học tập hoặc việc thực hiện nhiệm vụ, mà bao gồm VIỆC đo lường việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập cần có của người học dé thực hiện nhiệm vu theo một tiêu chuẩn nhất định”. Đánh giá năng lực dựa trên việc mô tả các sản phẩm đầu ra chỉ tiết, rõ ràng dé GV, HS đều có thể nhận định tương đối chính xác và khách quan về kết quả của người học sau quá trình học tập [3]. Kết quả nghiên cứu đã được thé hiện trong báo cáo tại các Hội thảo khoa học và nhiều đề tài nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Viện Khoa học giáo dục Việt Nam; Học viện quản lý giáo dục; Đại học quốc gia Hà Nội như nghiên cứu về kiểm định, đảm bảo và đánh giá chất lượng giáo dục của. Một số kết quả nghiên cứu lí luận được công bố qua các công trình nghiên cứu của tác gia Đặng Thành Hưng [7], [8]; Lương Việt Thai; Đỗ Ngọc Thống [2I.
- Tác giả Đặng Thành Hưng [8] đã đề xuất Khung năng lực giáo dục phô thông theo 7 lĩnh vực tương ứng với 07 lĩnh vực giáo duc: 1. Năng lực Toán và Logic; 2. Năng lực về ngôn ngữ; 3. Năng lực khoa học; 4.
Năng lực nghệ thuật; 5. Năng lực thé chất và vận động thê chất; 6. Năng lực công nghệ; 7. Năng lực công dân.
Tác giả đề xuất kỹ thuật thiết kế nội dung học tập theo tiếp cận năng lực dựa vào lý thuyết phát triển chuẩn, lý thuyết đánh giá và minh họa qua Khung năng lực ngôn ngữ ở giáo dục phổ thông. - Một số nghiên cứu đã xác định bản chất của tiếp cận năng lực trong giáo dục dựa trên quan niệm mới về năng lực và khái niệm năng lực được giải thích trong tiếp cận này bao hàm toàn bộ quá trình dạy học, cả đầu ra, đầu vào. Tiếp cận năng lực đòi hỏi một mặt người học phải có nền tảng năng lực của mình, vừa phải huy động và tích lũy năng lực trong học tập và biến nó thành sức mạnh cá nhân dé học tập hiệu quả, và nhà giáo phải dựa vào đó để phát triển hơn nữa năng lực của người học thể hiện ở sản phẩm đầu ra và có sự khác biệt với năng lực đầu vào. Những nghiên cứu về quản lý dạy học môn Hóa học theo định hương giáo dục STEM Theo Tiến sĩ Deron Cameron, Hiệu trưởng trường University Place Elementary School - Điều phối viên chương trình dạy học STEM hiện tại của trường: “STEM đại diện cho một sự thay đôi mô hình từ triết lý giáo dục truyền thống, dựa trên điểm kiểm tra tiêu chuẩn, sang một lý tưởng hiện dai, tập trung vào việc định giá quá trình học tập nhiều như kết quả.
Về bản chất, người học được phép sai, thử nhiều ý tưởng, lắng nghe ý kiến thay thế và tạo ra một nền tảng kiến thức có thé áp dụng cho cuộc sông thực, trái ngược với một ky thi”. Từ đó Nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Hải, Viện Nghiên cứu Giáo dục STEM của Dai hoc Missouri (Mỹ) đã tong kết ra 3 đặc điểm quan trọng về giáo dục STEM: (¡) Cách tiếp cận “liên ngành” khác với “đa ngành”. Do vậy nếu nhiều giảng viên day các ngành khác nhau mà không có sự kết nối và bé trợ lẫn nhau thì chưa được gọi là giáo dục STEM; (ii) Sự lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, thê hiện tính thực tiễn và tính ứng dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề thực tế; (ii) Sự kết nối từ trường học, cộng đồng đến các tổ chức toàn cầu; đó là kỷ nguyên của thế giới phang, cách mạng công nghiệp 4.0 nơi mà tự động hóa và điều khiến từ xa thông qua các thiết bị điện tử di động lên ngôi, thông qua đường truyền Internet. Quản lý Theo tác giả Karl Marx thì : bản chất của quản lý là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó, một người chơi vĩ cam riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì can người chi huy [17, tr.3] Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạ động quản lý là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thé quản lý (người bi quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức ” [20, tr.
Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Tựu chung lại các khái niệm trên đều thé hiện: + Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng dé làm cho xã hội loài người tồn tai, vận hành và phát triển. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên của cứu các nhà khoa học, một số công trình liên quan dến đề tài nêu trên, luận văn khái quát: “Quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thé quản lý tác động tới đối tượng quản lý trong một tổ chức bằng những phương pháp vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu dé ra”.
Như vậy có thể hiểu: Quá trình tác động có mục đích, kế hoạch, định hướng nhằm đạt được mục tiêu đã xác định; có chủ thé quản lý và đối tượng quản lý; nội dung của quản lý theo chức năng bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Dạy học theo định hướng STEM Dạy học STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học - theo cách tiếp cận liên và người học có thé áp dụng dé giải quyết vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. 10 II Từ định nghĩa trên, có thể hiểu dạy học môn Hoá học theo định hướng STEM là phương pháp dạy học mà giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn giúp học sinh hình thành những hiểu biết, kĩ năng trong các lĩnh vuc liên quan như khoa học, công nghệ, kỹ thật, toán học. Qua những phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh hiểu và tiếp thu bài học tốt hơn, từ đó có thể dễ dàng ứng dụng vào thực tế cuộc sống.
Quản lý dạy học môn Hóa theo định hướng giáo dục STEM Quan lý hoạt động dạy học là sự tac động có có mục đích của CBQL đến cách thức làm việc của GV và HS thông qua kế hoạch thực hiện, tô chức, chỉ đạo va kiểm tra đánh giá nhằm đạt được mục đích dạy học đã dé ra. Quản lý hoạt động dạy học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đây là van đề anh huong dén moi thanh tố của quá trình dạy học, đó là mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện - hình thức - kết quả, đặc biệt là mối quan hệ GV-HS trong dạy học. Quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học theo định hướng giáo dục Stem được mô hình hóa như sau: Quản lý Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học môn Kiểm tra hoạt động [~~ Hóa học theo định hướng giáo dục Stem —| thực hiện » ne môn Hóae Quan Tý hoạt động day của giáo viên mon Hóa hoc theo ho4 ạt độhng hoc theo đinh hướng siáo duc Stem dy ạ : oc E——] theo định định hướng Quản lý hoạt động học môn Hóa học của học sinh theo |z—_ h hướngSẽ giáo định hướng gido duc Stem ——| giáo dục m h ư ơ n g p h á p d a y h ọ c m ô n H ó a h ọ c ( * — d ụ c S t e Stem FS Quản lý đổi mới p theo đinh hướng gido duc Stem Quản lý đảm bảo các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy hoc theo đính hướng gido duc Stem Po So đồ 1.1: Mô hình quan lý hoạt động dạy học môn Hóa học theo định hướng ¬ giáo dục Stem 1. Một sô vần đề về dạy học môn Hóa học theo định hướng giáo dục STEM ở I1 12 các trường THPT 1.
Đặc điểm, lứa tuổi học sinh trung học phố thông Lia tuổi học sinh phổ thông là giai đoạn phát triển quan trong trong việc hình thành trí tuệ. Các giác quan và nhận thức của các em đã đạt tới mức độ của người lớn. Khả năng quan sát gắn liền với khả năng tư duy và ngôn ngữ. Quá trình quan sát một phâm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em nhưng sự quan sát ở các em thường bị phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định và quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính chung chung, phiến diện và vội vàng đưa ra những kết luận không có cơ sở thực tế.
Sự phát triển trí nhớ của học sinh phố thông cũng có sự biến đổi rõ rệt. Có nghĩa là khi học bài các em đã biết tóm tắt những ý chính, đánh dấu lại những phần trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh. Các em cũng hiểu được rất rõ những trường hợp nào phải học thuộc từng câu, từng chữ, trường hợp nào phải diễn dat bằng ngôn từ của mình và nội dung nào chỉ cần hiểu ý chính, không cần ghi nhớ. Bên cạnh đó, vẫn còn một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung hoặc có thái độ coi thường việc ghi nhớ và đánh giá thấp việc ôn tập lại bài cũ.