Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Phan Thị Thu Hà (2012) đã có nghiên cứu về “Ngân hàng thương mại”, đã đưa ra khái niệm hoạt động cho vay: “Hoạt động cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.[8] “Trong NHTM, cho vay luôn là khoản mục chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng và là khoản mục đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay.
“Tiền cho“vay là một món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhưng lại là một tài sản đối với ngân hàng. Khi phát sinh một khoản vay thì người vay là bên chủ động: có thể trả ngân hàng tiền vay trước hạn, đúng hạn hay có thể xin gia hạn thêm thời gian trả nợ. Còn các NHTM thực hiện quản lý các khoản vay theo hợp đồng đã ký, trừ khi phát sinh sai phạm vi phạm hợp đồng của khách hàng ”trong quá trình vay. Đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại “Thứ nhất, cho vay là hoạt động kinh doanh chính của NHTM để tạo ra lợi nhuận.
Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Đây không chỉ là khoản sử dụng vốn lớn nhất của Ngân hàng mà còn là nguồn tạo ra thu nhập lớn nhất trong tất cả các tài sản có sinh lợi. Do vậy, hoạt động cho vay mang tính chất sống còn đối với hầu hết các NHTM, chiếm khoảng 70% tổng tài sản của Ngân”hàng.[8, tr31] Luan van 8 “Thứ hai, hoạt động cho vay chứa đựng nhiều rủi ro trong hoạt động của các NHTM. Trên bảng cân đối kế toán của các NHTM, khoản mục tiền cho vay kém thanh khoản nhất so với các tài sản khác, bởi vì chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản vay đó mãn hạn.
Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Và những rủi ro này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của ngân hàng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Chính điều này mà NHTM rất coi trọng công tác quản lý tín dụng nhằm đảm bảo lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Cho vay khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm khách hàng cá nhân Khách hàng cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. “Cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động tín dụng của Ngân hàng cho chủ thể là các cá“nhân, hộ gia đình, trong đó Ngân hàng tài trợ vốn cho cá nhân, phục vụ việc sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi.” Phan Thị Thu Hà (2012) đã có nghiên cứu về “Ngân hàng thương mại”, đã đưa ra khái niệm cho vay KHCN: “Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng (người cho vay) giao cho đối tượng khách hàng cá nhân (người đi vay) một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa”thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. Đặc điểm khách hàng cá nhân 1. Chủ thể đi vay Chủ thể đi vay trong cho vay KHCN là những cá thể không xác định như một người hay một hộ gia đình.
Khác với cho vay KHDN, trong Cho vay khách hàng“cá nhân khách hàng vay vốn không phải là những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thông thường mà sẽ là: Những người buôn bán nhỏ, nông dân, sinh viên, nhân viên văn phòng, phụ nữ, cơ sở sản xuất nhỏ. hoặc là đại diện hộ gia đình. Luan van 9 Những cá thể này có nhu cầu sử dụng các dịch vụ Ngân hàng như khi họ cần tiền để mua nhà, mua ô tô, tiêu dùng cá nhân. hay thậm chí vay vốn để kinh doanh sản xuất”nhỏ.
“Thị trường KHCN tuy nhỏ hơn về quy mô nhưng lại lớn hơn về số lượng khách hàng so với thị trường KHDN. Chủ thể đi vay KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN là không thường xuyên và không giống như các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau tùy thuộc vào tình hình nền kinh tế, trình độ dân trí, thu nhập, tập quán, thói quen tiêu dùng của dân cư.” “Xuất phát từ nhu cầu của các chủ thể đi vay là các KHCN rất đa dạng và phức tạp do các nhóm dân cư khác nhau về thu nhập, giới tính, địa vị xã hội, độ tuổi, thói quen sẽ có những nhu cầu riêng và rất khác nhau. Mục đích vay vốn Nguyễn Minh Kiều (2012) đã có nghiên cứu về “Tín dụng và thẩm định tín dụng”, có đưa ra mục đích vay vốn của KHCN được chia thành 2 nhóm chủ yếu: Nhóm 1: Cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu đáp ứng nhu cầu chi tiêu, thỏa mãn nhu“cầu hưởng thụ những hàng hóa có chất lượng tốt để cải thiện đời sống, nhằm hỗ trợ tối đa nhu cầu vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng của khách hàng.
Đó là những nhu cầu tiêu dùng mang tính thiết yếu và ý nghĩa trong cuộc sống mỗi cá nhân, gia đình như: Mua sắm nhà cửa, nội thất, mua phương tiện như xe máy, ô tô. [10, tr 135] Nhóm 2: Cho vay KHCN để phục vụ nhu cầu sản xuất nhưng những khoản vay này thường là những khoản vay nhỏ chủ yếu là để mở rộng sản xuất của hộ gia đình, cơ sở sản xuất nhỏ, nhằm giúp KHCN hoạt động hiệu quả trong suốt chu kỳ kinh doanh của mình. Quy mô khoản vay và chi phí thẩm định Quy mô các khoản vay đối với KHCN thường có các đặc điểm sau: Luan van 10 - Giá trị mỗi“khoản vay riêng lẻ thường nhỏ; - Giá trị khoản vay thường dựa vào tư cách người vay hơn là tài sản thế chấp; - Cho vay theo từng giai đoạn, bắt đầu quan hệ từ những món vay nhỏ rồi tăng dần quy mô món vay; - Số lượng khoản vay rất lớn, đòi hỏi ngân hàng phải có những chiến lược tiếp cận khách hàng, marketing riêng biệt, cụ thể, mang lại sự gần gũi, tin tưởng và yên tâm cho khách hàng vay”vốn. Về chi“phí thẩm định khoản vay: Thường phải tốn nhiều chi phí hơn so với việc cho vay doanh nghiệp.
Nguồn trả nợ Nguồn trả nợ của KHCN là tổng các khoản thu nhập thường xuyên của họ, vì vậy khi cho vay ngân hàng phải xem xét một cách tổng thể đến hoàn cảnh sống, nơi làm việc, lương của khách hàng vay. Nghề nghiệp của người vay phải ổn định, phải được quan tâm thích đáng, nhìn chung những cán bộ viên chức nhà nước, bác sĩ, giáo viên, nhân viên của các công ty, tập đoàn kinh tế lớn. được coi là những người có thu nhập ổn định và ít rủi ro hơn đối với những người làm việc tự do, không có chế độ. Thời hạn khoản vay “Thời hạn của khoản vay chủ yếu là ngắn hạn, một phần là trung hạn và một phần nhỏ là dài hạn.
Nguyên nhân là do các khoản vay KHCN chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, những nhu cầu trong ngắn hạn, một phần phục vụ sản xuất kinh doanh nhưng thường là sản xuất với quy mô không lớn. Cho vay KHCN là hình thức cho vay với mức lãi suất cao nhất trong các NHTM và các cá nhân đến xin vay ngân hàng chủ yếu để đáp ứng tức thời các nhu cầu của cuộc sống mà ngay tức thời họ chưa có khả năng chi trả nhưng họ hoàn toàn đủ khả năng ấy bằng chính nguồn thu nhập trong một khoảng thời gian ngắn, trung hạn. Mức độ rủi ro của các khoản vay “Các khoản vay cá nhân cũng thường chứa đựng rủi ro tiềm ẩn về tính mất đối xứng về thông tin phía khách hàng cung cấp, chính vì vậy các NHTM thường áp Luan van 11 dụng một mức lãi suất đối với cho vay KHCN cao hơn đối với cho vay KHDN. Hơn nữa, cho vay KHCN có đặc điểm là nguồn trả nợ chủ yếu là thu nhập thường xuyên của người vay, ví dụ như lương, thưởng, do đó ngân hàng sẽ có thể phải đối mặt với rủi ro không thu hồi được nợ vì:” “- Tình hình tài chính của cá nhân hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ.
Trường hợp điển hình hay xảy đến với các NHTM trong cho vay tiêu dùng là: Có thể một cá nhân vào thời điểm đi vay họ có công việc với một mức thu nhập ổn định, đảm bảo trả nợ được cho ngân hàng trong tương lai theo thẩm định của cán bộ tín dụng, nhưng trong thời gian vay vốn, công ty của họ giảm biên chế, cá nhân này đột nhiên mất việc làm, đồng nghĩa với việc họ không còn nguồn thu nhập thường xuyên để trả nợ và kéo theo ngân hàng gặp phải rủi ro, khoản nợ này trở này nợ xấu và có thể sẽ không thu hồi được nợ vay. ” “- Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với khoản vay KHCN thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ. Các thông tin của cá nhân thường không rõ ràng và minh bạch như các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Trong khi các doanh nghiệp có báo cáo kiểm toán thì các cá nhân lại dễ dàng giữ kín các thông tin vể triển vọng công việc cũng như tình trạng sức khỏe của mình.