phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS trường THPT - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS trường THPT Marie Curie, Quận 3, TPHCM - Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS trường THPT Marie Curie, Quận 3, TPHCM 5 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNHNIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề giới tính và giáo dục giới tính đã được nghiên cứu từ lâu. Tại phương Đông, cùng với hai nền văn minh rực rỡ của Ấn Độ và Trung Hoa, hai bộ sách tính dục Kamasutra (khoảng năm 200 đến 300) và Tố nữ kinh (khoảng hơn 2600 năm trước công nguyên) là những tác phẩm cổ điển đề cập một cách sâu sắc về nhiều vấn đề tính dục trên bình diện khoa học [11, tr.
Tuy nhiên cho đến thế kỷ thứ XIX, tình dục vẫn là đề tài cấm kỵ. Ngay ở Anh và Đức, người lớn không nói đến cuộc sống tình dục với trẻ em. Bên cạnh đó, người ta còn xem xét giới tính và giáo dục giới tính theo quan điểm của tôn giáo và đạo đức thời đó. Và chỉ sang đến thế kỷ XX, vấn đề GDGT mới được nhiều nước Châu Âu quan tâm.
Thụy Điển là quốc gia đầu tiên nghiên cứu vấn đề này. Bộ Giáo dục Thụy Điển đã quyết định thí điểm đưa GDGT vào nhà trường từ năm 1942 và đến năm 1956 chính thức dạy phổ cập trong toàn thể các trường từ tiểu học đến trung học. Cũng như Thụy Điển, ở nhiều nước phương Tây và sau đó ở Mỹ, nhu cầu giáo dục giới tính cũng được chú ý và đề cao. Người ta cho rằng cần phải tiến hành GDGT trong nhà trường trên cơ sở khoa học và cần GDGT ngay từ tuổi mẫu giáo [12, tr.
Ở các nước phương Đông, GDGT được xem là lãnh vực cấm kỵ, do ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến và tôn giáo. Trong quan hệ, nam nữ phải tuân thủ nghiêm ngặt phương châm „„Nam nữ thụ thụ bất thân‟‟. Việc GDGT hầu như bị né tránh, ít được chú trọng nghiên cứu và tổ chức giáo dục 6 z một cách hệ thống. Bên cạnh đó, GDDS đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, trước năm 1994, nội dung GDDS ở các nước đều tập trung vào các vấn đề dân số phát triển (quy mô dân số,di cư, KHHGĐ…) Năm 1994, Hội nghị ICPD (International Conference on Population development) với sự tham gia của 197 quốc gia ở Cairo – Ai Cập, đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số ở các quốc gia. Nếu trước đây, GDDS nhấn mạnh đến các nội dung dân số phát triển thì sau năm 1994, GDDS nhấn mạnh tới các nội dung SKSS VTN như là một ưu tiên. Cũng trong Hội nghị này, vấn đề GDSKSS và GD SKSS VTN chính thức được thừa nhận. SKSS được coi là định hướng chỉ đạo của hầu hết các chương trình DS thế giới.
Cũng chính tại Hội nghị này, một khái niệm mới về GDSKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến tình trạng sức khỏe, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống. Sau hội nghị này, nhiều nước trên thế giới cũng lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về SKSS VTN như : - Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh, Trung Quốc (1995) - Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague, Hà Lan (1999) - Hội nghị dân số cấp cao của ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái BìnhDương (ESCAP) và quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) tại Bangkok, Thái Lan. Đặc biệt thông điệp của Tiến sĩ Nafit Sadik – Giám đốc điều hành Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc đã nêu: „„Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và họ biết SKSS rất quan trọng. Họ đều muốn xử sự một cách có trách nhiệm, muốn bảo vệ sức khỏecủa chính mình và của cả người mình yêu vì họ biết rằng đây là việc nên làm.
Phần lớn trong số họ khát khao tìm hiểu, họ muốn các thông tin về tình dục và sức khỏe tình dục. Họ muốn biết làm thế nào để 7 z bản thân họ và người yêu họ không có thai ngoài ý muốn, tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm HIV/AIDS‟‟. Nhân dịp ngày dân số thế giới 11/7/1998, UNFPA đã gửi thông điệp tới các nước trên thế giới : „„Những quan tâm hàng đầu hiện nay được tập trung vào các vấn đề về SKSS VTN‟‟. Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều đã hết sức quan tâm tới vấn đề SKSS, coi đó là một vấn đề mang tính chiến lược quốc gia.
Các nghiên cứu trong nước Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến phương Đông trước đây, việc GDGT ở Việt Nam chỉ được truyền miệng, ẩn dụ trong văn học dân gian như: “Yêu nhau cởi áo cho nhau”, “Cực chi da diết diết da ; áo em hai vạt trải ra anh nằm” hoặc “Trời mưa gió rét kìn kìn, đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông”. SKSS chỉ được quan tâm ở khía cạnh đạo đức, hầu như mọi người không dám nghiên cứu, né tránh, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra trong đời sống xã hội Việt Nam như khi có thai ngoài giá thú, người phụ nữ bị khinh rẻ, bị cạo đầu bôi vôi, đóng bè thả trôi sông, bị đuổi khỏi làng, tự tử…. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện KHHGĐ, GDDS, Đảng và nhà nước ta luôn coi GDDS là công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng tới việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Nghị định đầu tiên 216/CP của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề SKSS do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 26/12/1961 (được lấy làm Ngày Dân số Việt Nam) có nội dung „„Vì sức khỏe người mẹ, vì hạnh phúc và vì sự hòa thuận của gia đình để cho việc nuôi dạy con cái được tốt.
Việc sinh đẻ của nhân dân được quan tâm, hướng dẫn một cách thích hợp‟‟. Ngày 24/12/1968, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có chỉ thị 176A với nội dung chỉ đạo: „„BộGiáo dục, BộĐại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình 8 z chính khóa nhằm bồi dưỡng cho HS những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình, về nuôi dạy con cái‟‟. Sau khi có Nghị quyết Trung ương IV về chính sách DS – KHHGĐ và chiến lược DS – KHHGĐ đến năm 2000, với sự tham gia của các ngành, đoàn thể , công tác DS – KHHGĐ đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Kết quả đó đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao điều kiện sức khỏe, trong đó SKSS cho các cặp vợ chồng và tuổi vị thành niên.
Đến năm 1998, được sự tài trợ của QuỹDân số Liên Hiệp Quốc UNFPA, cùng với sự giúp đỡ của UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao cho Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện đề án VIE/98/P09 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao. Chương trình thí điểm tập trung chủ yếu về tâm lý giáo dục và sinh học. Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta, học sinh được học một cách hệ thống về „„những điều khó nói‟‟ có liên quan đến đời sống tình dục và mối quan hệ với người khác giới. Các nội dung SKSS được chính thức lồng ghép vào nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn này trọng tâm của công tác GDDS phải là GD SKSS cho VTN [19, tr.
Tháng 5/1998, Uỷ ban quốc gia DS/KHHGĐ đã thông qua Dự án “Tăng cường giáo dục dân số cho học sinh độ tuổi trung học, từ 12 đến 18 tuổi”. Dự án tập trung vào việc nâng cao nhận thức cho học sinh về giới tính, đời sống gia đình, SKSS, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội và nâng cao chất lượng dân số. Từ đó giúp cho học sinh có thái độ đúng, có lối sống lành mạnh, hình thành và phát triển nhân cách, thực hiện tốt những quy định của nhà nước về DS/KHHGĐ. Ngày 28/11/2000 , Thủ tướng chính phủ phê duyệt “Chiến lược Quốc gia về chăm sóc SKSS” giai đoạn 2001 – 2010 tại quyết định số 136/2000/QĐ-TTg.
Chiến lược nêu rõ quan điểm : bảo đảm sự công bằng, làm cho mọi người đều được tiếp cận với các thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS ; Công tác chăm sóc SKSS cho đối tượng thanh niên được quy định rõ 9 z tại Mục tiêu 6 của chiến lược: cải thiện tình hình SKSS, sức khỏe tình dục VTN thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi”. Ngoài ra, Chiến lược còn yêu cầu: "Mở rộng nội dung và thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường ở mọi cấp học và ngành học của hệ thống giáo dục quốc dân với những hình thức thích hợp theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đúng đắn, xây dựng kỹ năng sống phù hợp về DS và phát triển bền vững,SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính. Khuyến khích các hình thức giáo dục đồng đẳng và mở rộng các hình thức tư vấn về các vấn đề trên phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tuổi". Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số tại Điều 29 đã giao trách nhiệm: "Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng chương trình, nội dung giáo dục về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới; chỉ đạo và tổ chức công tác giảng dạy về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về nội dung giáo dục dân số, SKSS, KHHGĐ, bình đẳng giới phù hợp với yêu cầu sư phạm của từng ngành học, cấp học, bậc học.