Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH ĐÌNH - ĐỀN HÀO NAM 1. Một số khái niệm 1. Quản lý Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”[9, tr. Nhấn mạnh cho nội dung này tác giả viết: Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, cũng như một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [9, tr. Angghen thì cho rằng quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người. Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rằng bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng. Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý được hiểu “là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản 7 lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [9, tr. Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý.
Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau.
Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội. Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Quản lý ra đời chính là nhằm đến mục tiêu hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội.
Di tích lịch sử - văn hóa Nhiều nước trên thế giới đều đặt chung cho DTLS - VH là dấu tích, vết tích còn lại. Các quốc gia trên thế giới cũng đều đưa ra những khái niệm, quy định về DTLS -VH của dân tộc mình. Trong điều I của Hiến chương Vernice - Italia quy định “DTLS - VH bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [9, tr. Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về DTLS - VH, thông thường nhất theo Từ điển Bách khoa Việt Nam Nxb Từ Điển bách 8 khoa Hà Nội (2012) thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tuỳ tiện dịch chuyển, thay đổi, phá huỷ”.
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa năm 2009 quy định: “DTLS - VH là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [34, tr. DTLS - VH phải có một trong bốn tiêu chí cụ thể như sau: - Công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; - Công trình, địa điểm xây dựng gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến; - Địa điểm có giá trị tiêu biểu về mặt khảo cổ; - Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về mặt kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [34, tr. Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về DTLS - VH, nhưng các khái niệm đó đều có chung một nội dung đó là: DTLS -VH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại [34, tr. Quản lý di tích lịch sử - văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, xét cho cùng cũng là một phần của công tác quản lý di sản văn hóa nói chung và quản lý DTLS-VH nói riêng.
Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi. Cụ thể, “quản lý” có hai nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của 9 một số đơn vị, một cơ quan; Trông coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động cụ thể. Trường hợp quản lý DTSL-VH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Trong lĩnh vực DTLS-VH, cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; tổ chức bảo vệ di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ sở pháp lý bảo vệ di tích… Quản lý DSVH là một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các DSVH đó [34].
Quản lý DTLS-VH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH. Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làm công tác quản lý phải biết cách “đánh thức” những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng. Quản lý DTLS-VH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS-VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Các DTLS-VH cần được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học.
Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho 3 mục tiêu lớn là: 10 Thay đổi nhận thức của toàn dân về vai trò và ý nghĩa của di sản văn hoá nói chung và DTLS – VH nói riêng trong đời sống xã hội, nâng cao lòng tự hào dân tộc trước kho tàng di sản văn hoá quý giá do các thế hệ cha ông tạo dựng và truyền lại cho thế hệ hôm nay. Huy động các nguồn lực xã hội đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng góp phần giữ gìn, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá để trao truyền cho các thế hệ mai sau. Áp dụng hệ thống các giải pháp bảo tồn để biến các giá trị di sản văn hoá thành nền tảng tình thần và động lực phát triển bền vững của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc.
Từ các khái niệm về quản lý và DTLS - VH chúng ta có thể khái quát: Quản lý DTLS - VH là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ, các DTLS -VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. DTLS - VH là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa, chính vì vậy việc quản lý DTLS - VH cũng cần tiến hành theo Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009. Nội dung của quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm: “Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;… Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố các và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa” [34, tr. Cơ sở pháp lý Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, dù còn nhiều công việc phải làm nhưng Nhà nước Việt Nam đó quan tâm ngay đến việc gìn giữ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc và nâng cao dân trí.
Điều đó được thể hiện bằng việc Hồ 11 Chủ tịch ký Sắc lệnh số 65 - SL ngày 23/11/1945. Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về quản lý di sản văn hóa được ra đời chưa đầy 3 tháng sau khi đất nước giành được độc lập.