Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Các kiến thức và khái niệm liên quan đến hệ microgrid. Chương 3: Hệ thống microgrid. Chương 4: Điều khiển hệ thống microgrid.
Chương 5: Mô phỏng hệ thống microgrid. Chương 6: Kết luận và đề nghị hướng phát triển của đề tài. 7 Chương 2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN MICROGRID 2.1 Khái niệm microgrid: Microgrid là mạng lưới điện mềm với các thành nguồn phân tán có quy mô nhỏ và vừa (vi nguồn - DG), ví dụ như pin nhiên liệu, tua bin gió, hệ thống quang điện (PV)…[1, 2], cùng với các thiết bị lưu trữ cục bộ và các tải liên kết. Thông thường vi lưới có công suất khoảng vài trăm KW.
Việc thiết kế một hệ thống vi lưới như vậy nhằm cung cấp một nguồn điện chất lượng cao, ổn định cho tải quan trọng trong một khu vực nhất định. Đặc điểm này làm vi lưới là hệ thống điện riêng biệt có các chế độ vận hành đặc trưng như: i) vận hành thông thường ở chế độ nối lưới; ii) có thể tự động chuyển từ chế độ nối lưới sang chế độ tự vận hành khi hệ thống vi lưới phát hiện có sự cố xảy ra trên mạng lưới mà nó kết nối vào. Khi sự cố đã được cắt bỏ hoặc các nhiễu loạn về điện biến mất, vi lưới có thể tái đồng bộ với mạng lưới chính sau khi chắc chắn rằng tải được đảm bảo. Ngoài ra, microgrid còn góp phần chia sẻ lượng tải đỉnh với lưới điện dịch vụ vào những giờ cao điểm và cung cấp phát điện dự phòng nếu xảy ra thiếu hụt về điện.
Các phương pháp cổ điển trước kia cho việc tích hợp thành phần phát điện nhỏ tập trung vào sự tác động của nó lên lưới điện [2]. Những phương pháp này đảm bảo rằng các máy phát điện liên kết sẽ tự động dừng hoạt động khi năng lượng điện không còn trên lưới [2]. Ngược lại, vi lưới được thiết kế để tự động ngắt kết nối với lưới để cung cấp năng lượng độc lập cho tải của nó khi có một sự cố xảy ra trên lưới, sau đó tự động đóng kết nối trở lại khi sự cố đã được giải quyết.2 Các thành phần của microgrid Mô hình của một vi lưới điển hình được thể hiện ở hình 2. Trong cấu trúc của một hệ thống điện, vi lưới là một phần của hệ thống phân phối, nó thường đặt ở phía sau của trạm điện phân phối, kết hợp chặt chẽ với nhiều loại vi nguồn và tải khác 8 nhau [3].
Nó thường được ghép nối với điểm có điện áp thấp tại lưới phân phối thông qua điểm ghép nối chung (Point Of Common Coupling – PCC), đó là điểm mà một vi lưới sẽ cách ly hoặc ghép nối với lưới điện. Như được thấy ở hình 2.1, một vi lưới cụ thể có 5 thành phần chính, chúng là, vi nguồn, tải, thiết bị lưu trữ, hệ thống điều khiển và điểm ghép nối chung.1 Sơ đồ của một microgrid 2.1 Vi nguồn Vi nguồn trong một vi lưới bao gồm cả máy phát điện thông thường như máy phát điện cảm ứng, máy phát điện đồng bộ, hay thành phần năng lượng tái tạo. Thường những nguồn nhỏ đặt nằm cạnh điểm tiêu thụ [4]. Một số loại vi lưới có khả năng cung cấp năng lượng nhiệt để tái tạo năng lượng trong quá trình vận hành.
Bằng cách đó hiệu suất chung của vi lưới sẽ tăng đáng kể và mang lại lợi ích cho cả người sử dụng và bên cung cấp dịch vụ điện. 9 Công suất điện đầu vào từ các vi nguồn có thể được cung cấp cả ở AC tại tần số cố định hay biến đổi, hoặc ở DC. Do đó, hầu hết các DG được cung cấp điện bởi nguồn năng lượng tái tạo đều cần đến các thiết bị chuyển đổi điện tử công suất để chuyển thành dạng điện năng tương đồng với lưới điện. Những bộ chuyển đổi này có thể bao gồm cả bộ chỉnh lưu và bộ nghịch lưu, hay chỉ là bộ chỉnh lưu [4].
Điện áp và tần số ngõ ra của thiết bị điện tử công suất này phải tương tự với lưới, do đó trong mọi trường hợp thì bộ lọc công suất ngõ ra là cần thiết. Theo thuật ngữ điều khiển dòng công suất, vi lưới có thể phân loại là thành phần có thể điều phối hoặc thành phần không thể điều phối [3]. Công suất ngõ ra của thành phần điều phối được có thể được tùy chỉnh và điều khiển bằng hệ thống điều khiển giám sát để xác định điểm thiết lập của sự vận hành thành phần này. Sự điều khiển như vậy có thể được tìm thấy trong các máy phát đồng bộ và các thành phần thông thường khác.
Ngược lại công suất ngõ ra của thành phần không điều phối chỉ được tùy chỉnh dựa trên công suất ngõ ra tối ưu của nguồn năng lượng chính, đó là điểm dò công suất cực đại (MPPT – Maximum Power Point Tracker) trong hệ thống quang điện. Nói chung, thành phần DG sử dụng nguồn năng lượng tái tạo thường không điều phối được [3].2 Tải của vi lưới Tải của vi lưới được phân thành tải nhạy cảm và tải không nhạy cảm. Mỗi thành phần bao gồm các tải điện, tải nhiệt hoặc cả hai. Khi vi lưới ở chế độ nối lưới thì các tải này được cung cấp điện từ cả vi lưới và lưới điện.
Trong thời điểm mà vi lưới hoạt động ở chế độ cách ly, việc sa thải phụ tải là yêu cầu để duy trì cân bằng công suất và đảm bảo được tần số và điện áp hoạt động bên trong vi lưới [3]. Trong trường hợp này, các phương pháp vận hành sẽ luôn ưu tiên tải nhạy cảm được cấp điện từ vi nguồn của vi lưới.3 Thiết bị lưu trữ điện tức thời Thiết bị lưu trữ điện tức thời được dùng khi các ứng dụng vi lưới có khả năng phát điện vi nguồn lớn hơn so với tải của chính nó [4]. Mục đích chính là để hệ thống cân bằng công suất giữa tải và các thành phần phát điện bằng cách bơm đi một phần năng lượng mỗi khi thành phần vi nguồn cung cấp lượng năng lượng thích hợp đủ để cấp điện cho tải. Tương tự như thành phần năng lượng chính của hệ thống năng lượng tái tạo thì các thiết bị lưu trữ năng lượng cũng có thiết bị điện tử công suất để kết nối với vi lưới.
Đó là những bộ biến đổi năng lượng đa chiều mà cho phép năng lượng được lưu trữ và phát ra từ thiết bị này. Một số các thiết bị lưu trữ năng lượng dự trữ là [4]: 1- Pin lưu trữ (pin nhiên liệu). 3- Siêu tụ điện.4 Hệ thống điều khiển Hệ thống điều khiển trong vi lưới được thiết kế để điều chỉnh một cách an toàn chế độ vận hành của hệ thống trong hai chế độ nối lưới và cách ly. Nếu có hệ thống liên lạc giữa các vi lưới thì hệ thống điều khiển dựa trên một bộ điều khiển trung tâm cho tất cả các vi nguồn, ngoài ra hệ thống điều khiển có thể là một bộ phận của vi nguồn.
Trong cả hai trường hợp thì mục tiêu của hệ thống điều khiển là điều khiển điện áp và tần số bên trong vi lưới khi vi lưới ngắt kết nối với lưới và đảm bảo các thông số được duy trì trong một giới hạn chấp nhận được. Nó cũng có thể tái đồng bộ điện áp của vi lưới với điện áp của lưới điện tại thời điểm tái kết nối, và điều chỉnh công suất ngõ ra của nguồn dựa trên điểm thiết lập để bơm ra hoặc hấp thụ công suất tác dụng và phản kháng.5 Điểm ghép chung (PCC) Điểm ghép chung thực chất chỉ là một thiết bị khóa điện vận hành để cách ly vi lưới với lưới điện nếu có nhiễu loạn điện xảy ra trên lưới chính và tái kết nối vi lưới nếu nhiễu loạn điện không còn hiện hữu. Khóa điện này đóng một vai trò khá quan trọng, nhiệm vụ chính của nó là bảo vệ tải nhạy cảm bên trong vi lưới khỏi nhiễu điện từ lưới. Có bốn điều kiện dẫn đến cách ly vi lưới đó là [5]: 1- Điện áp võng trong lưới điện dịch vụ lớn hơn khoảng thời gian mà tải có thể chịu đựng.
2- Tần số lưới điện không nằm trong giới hạn cho phép. 3- Dòng điện cao gây nên bởi sự cố. 4- Chất lượng điện nghèo nàn của lưới điện.3 Cấu hình vi lưới Vi nguồn trong vi lưới được thiết lập với nhiều cấu hình điều khiển khác nhau mà các vi nguồn này điều khiển công suất ngõ ra dựa trên tín hiệu đầu vào. Mô tả chi tiết về cấu hình có thể tìm thấy ở [5, 6, 7] 2.1 Cấu hình điều khiển công suất Trong cấu hình này tất cả các vi nguồn được điều khiển để điều chỉnh điện áp và công suất tại các điểm kết nối với tuyến dây [6].
Điện áp của điểm kết nối là điện áp được đồng bộ hóa từ lưới, thông qua bộ Vòng Khóa Pha (PLL – Phase Locked Loop). Điểm thiết lập công suất được được xác định trước trong bộ điều khiển giám sát và được điều chỉnh dựa trên kịch bản vận hành tối ưu. Việc điều khiển công suất này có thể thực hiện bằng cách đo điện áp tại điểm kết nối và dòng mà vi nguồn đưa ra, sau đó thực hiện tính toán cần thiết để đo được công suất tức thời. Sự so sánh giữa công suất tức thời và công suất đặt trước được thực hiện để hiệu chỉnh sai số sai lệch, nếu 12 nó tồn tại.
Do đó, với cấu hình này, bất cứ sự tăng tải nào sẽ được cung cấp bởi nguồn lưới, từ đó vi nguồn đưa ra một công suất không đổi bất chấp việc dao động của tải. Khi vi lưới chuyển sang chế độ tự vận hành, phương pháp điều khiển theo độ sụt được dùng để đảm bảo điện áp và tần số của tất cả vi nguồn là giống nhau để duy trì sự ổn định của hệ thống. Bởi nếu có bất cứ sự khác biệt nào về biên độ điện áp sẽ dẫn đến sự lưu thông của dòng phản kháng cao giữa các thành phần và bất kỳ dao động tần số cũng dẫn đến công suất tác dụng bị hấp thụ bởi một số thành phần.2: Cấu hình công suất 2.2 Cấu hình điều khiển dòng nhánh Theo cấu hình điều khiển dòng nhánh, các vi nguồn điều chỉnh điện áp tại điểm kết nối bằng cách sử dụng PLL trong suốt chế độ nối lưới, nhưng nó khác với chế độ điều chỉnh công suất. Nhánh cung cấp bao gồm vi nguồn giám sát mỗi thành phần mà khi tải tăng, vi nguồn sẽ tăng công suất ngõ ra, công suất chảy trong nhánh chính sẽ không đổi.
Cấu hình này được thể hiện trong hình 2.