CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề lý luận về cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm a.
Khái niệm Khái niệm về ngân hàng thương mại đã xuất hiện từ khá sớm, có rất nhiều định nghĩa và góc nhìn về ngân hàng thương mại. Theo Mishkin (2001), “ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm nhận tiền gửi và cho vay tiền, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác. Luật Các Tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Quốc Hội, 2010), quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Rose (2004):“Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Nguyễn Văn Tiến (2009) nhận định “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ.” Với quan điểm của tác giả, khái niệm về ngân hàng thương mại của tác giả Nguyễn Văn Tiến (2009) là khái niệm chính xác và đầy đủ nhất, đó là ngân hàng 10 thương mại là tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Đặc điểm Ngân hàng thương mại có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán. Thứ hai, ngân hàng thương mại đa dạng các hoạt động, đa dạng dịch vụ, nghiệp vụ: (1) Huy động vốn: phát hành trái phiếu, kì phiếu, cổ phiếu; nhận tiền gửi; (2) Cho vay: cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh doanh với doanh nghiệp và cá nhân; (3) Chuyển tiền; (4) Bảo lãnh, (5) Thanh toán… Thứ ba, tổng tài sản của NHTM là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn hệ thống ngân hàng thương mại. Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại Theo Lê Văn Tề (2007) và Nguyễn Văn Tiến (2009), ngân hàng thương mại có các chức năng cơ bản sau: Chức năng Khách hàng Ngân hàng Nền kinh tế - Đây là - Điều hòa nguồn vốn tiền tệ: huy động chuyển từ tác động nơi dư thừa trực tiếp tạm thời đến Trung gian tín - Người gửi đến năng nơi thiếu hụt dụng: cầu nối tiền: an lực tại chính tạm thời giữa người thừa toàn, thu lãi của ngân vốn và người tiền gửi hàng: thu thiếu vốn lợi từ sự chênh lệch lãi suất tiền vay và tiền gửi 11 - Tạo bút tệ góp phần tăng quy mô tín dụng - Thu hút vốn - Thúc đẩy tiền gửi qua lưu thông Trung gian - Thanh toán một số dịch hàng hóa thanh toán: thay nhanh vụ thanh - Tiết kiệm mặt khách hàng chóng, an toán bằng nhân lực nhận – trả tiền toàn, hiệu tài khoản - Tiết kiệm trên tài khoản của quả ngân hàng chi phí lưu khách hàng - Thu phí thông tiền chuyển tiền mặt Sử dụng số dư tài Lưu thông Tạo tiền cho nền khoản để mua bán Sử dụng vốn tiền hàng hóa, kinh tế hàng hóa, tiêu gửi để cho vay thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm dùng - Có nguồn - Khuyến - Đảm bảo an vốn lưu khích tích toàn khoản thông Thủ quỹ: nhận, lũy xã hội tiền gửi - Cơ sở thực giữ, bảo quản và - Tập trung - Sinh lời qua hiện chức chi tiền nguồn vốn tiền lãi ngân năng trung để phát triển hàng gian thanh xã hội toán Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của Lê Văn Tề (2007), Nguyễn Văn Tiến (2009) b.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại bao gồm: tạo lập nguồn vốn và dịch vụ trung gian (Quốc Hội, 2010). Tạo lập nguồn vốn: chủ yếu từ huy động nguồn vốn trong xã hội và nguồn 12 vốn của ngân hàng. Huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn thông qua một số hình thức chủ yếu: tài khoản tiền gửi và mở tài khoản tiền gửi thanh toán; phát hành trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu; vay chiết khấu Ngân hàng Trung ương, vay vốn giữa các ngân hàng thương mại lẫn nhau khi có nhu cầu về vốn theo các chương trình, dự án, mục tiêu riêng.
Các dịch vụ trung gian được các ngân hàng thương mại tập trung chủ yếu. Các dịch vụ trung gian có tính an toàn cao, đem lại lợi nhuận cao và tạo lập nguồn vốn. Các dịch vụ trung gian gồm: (1) Trung gian thanh toán: cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng (Hình thức: chuyển khoản và chuyển tiền thanh toán) khách hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán mà không cần dùng tiền mặt. (2) Dịch vụ ngân quỹ: thu – phát triển tiền mặt cho khách hàng.
Hoạt động này ở một số nước trên thế giới rất phát triển bao gồm thu – chi tiền mặt, gửi kho két.Tại Việt Nam, do thói quen giao dịch bằng tiền mặt nên dịch vụ ngân quỹ chưa phát triển. (3) Dịch vụ dành cho doanh nghiệp xuất – nhập khẩu: xử lý chứng từ, ứng tiền, thanh toán, chuyển tiền quốc tế, quản lý ngoại hội. Khi thực hiện hoạt động này qua NHTM, các doanh nghiệp hạn chế được rủi ro về tỷ giá thông qua hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn đã ký kết với ngân hàng. Tổng quan về cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân Theo khoản 4 điều 16 Luật số 47/2010/QH12 – Luật các tổ chức tín dụng ngày 16/06/2010 của Quốc hội quy định: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi” (Quốc Hội, 2010). Tiếp đến, “Cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng” (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2014). Như vậy, cho vay tiêu dùng là quan hệ kinh tế giữa một bên ngân hàng và một bên là các cá nhân, người tiêu dùng. Ngân hàng sẽ chuyển giao vốn cho khách 13 hàng, khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi tại thời điểm xác định trong tương lai.
Qua đó, khách hàng có thể sử dụng vào các mục đích như mua sắm, đầu tư, cung cấp hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có đủ khả năng để chi trả cho các sản phẩm và dịch vụ đó. Điều đó dẫn đến việc thúc đẩy và kích thích tiêu dùng trong xã hội, tạo điều kiện cho các cá nhân được hưởng mức sống cao hơn, thúc đẩy xã hội phát triển. Cùng với sự phát triển của xã hội thì cho vay tiêu dùng ngày càng trở nên cần thiết và gắn bó với người dân ở các nước trên thế giới cũng như Việt Nam. Do đó, cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại ngày nay trở nên phổ biến do nhu cầu ngày càng tăng của người dân và được các ngân hàng thương mại nắm bắt và chú trọng phát triển.
Cho vay tiêu dùng chủ yếu được thực hiện cho các khách hàng cá nhân. Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo quy định trước pháp luật. Các đối tượng yêu cầu vay vốn thường được sử dụng với mục đích mua nhà, vay kinh doanh, vay mua xe… Pháp luật ngân hàng quy định: “Khách hàng cá nhân vay vốn với độ tuổi từ đủ 15 tuổi trở lên không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật” (Điều 7 Thông tư 39/2016/TT-NHNN). Đặc điểm cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân Thông qua các nghiên cứu trước đây của Trần Thị Tuyết Nhung (2019) và Trần Thị Thu Hường (2012) có thể tổng hợp các đặc điểm cho vay tiêu dùng cá nhân có các đặc điểm cơ bản như sau: Đối tượng cho vay tiêu dùng cá nhân là các cá nhân có nhu cầu vay vốn để tiêu dùng.
Do vậy, việc vay vốn phụ thuộc vào tình hình tài chính và khả năng chi trả trong tương lai của các cá nhân đi vay. Nếu mức thu nhập thấp thì giá trị các khoản vay cũng sẽ thấp nhưng nhu cầu cũng sẽ cao hơn do muốn phát triển cuộc sống. Thời hạn cho vay phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng. Tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn mà ngân hàng sẽ đưa ra các hình thức vay như ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn.
Rủi ro của các khoản vay: nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân thường ở 14 mức trung bình giúp ngân hàng phân tán rủi ro, nhưng không có nghĩa các khoản vay này không chứa các rủi ro. Các rủi ro này thường thường đến từ việc khách hàng thiếu thiện chí trả nợ, cung cấp thông tin không chính xác, không trung thực hoặc lý do khách quan liên quan đến nguồn chi trả các khoản vay này như người đi vay bị ốm, mất việc, chết, … sẽ khiến ngân hàng khó thu hồi nợ.