Chương 1 là trình bay cơ sở lý luận và tổng quan về van đề nghiên cứu. Cụ thé: Phan 1.1 trình bay cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quan trị rủi ro tín dụng nói chung và quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel và các văn bản pháp luật tại Việt Nam nói riêng; Phan 1.2 sơ lược các nghiên cứu về phương pháp hồi quy mô hình dự báo xác suất vỡ nợ của DN từ trước đến nay từ đó rút ra các nhóm yếu tố có ảnh hưởng tới xác suất vỡ nợ của KHDN. Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tin dụng 1. Rủi ro tín dung 1.
Các khái niệm rủi ro tín dụng RRTD là rủi ro xuất phát từ tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của người vay trong việc thực hiện các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng tín dụng. Nói cách khác, RRTD là khả năng xảy ra ton thất không lường trước từ việc người đi vay không hoàn trả được đúng hạn hoặc đầy đủ bao gồm cả vốn gốc và lãi theo đúng nghĩa vụ với Ngân hàng. Vì RRTD là khả năng không trả nợ của KH nên các tổ chức tín dụng cần nhận diện nguyên nhân của nó càng rõ, càng kỹ thì sẽ càng tốt (Norden và Weber, 2010). Có nhiều cách dé định nghĩa RRTD, tuy nhiên các quan điểm khác nhau đó đều cùng thể hiện một ban chất: RRTD là những biến cố mà một khi xảy ra sẽ dẫn đến sự thiệt hại về mặt kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do KH vay vốn không có khả năng thực hiện một phần hoặc toan bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Đặc điểm rủi ro tín dụng - Tính chất da dang, phức tạp: do su da dang trong loại hình tín dụng, quy định của pháp luật ảnh hưởng nhiều đến quyết định cấp vốn, sự chuyền biến của nền kinh tế, sự phức tạp trong nguyên nhân dẫn đến RRTD khiến cho RRTD có tính chat đa dạng và phức tạp; - Tính chất gián tiếp: trong quan hệ tin dụng thì Ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho KH trong một thời gian nhất định, vì thế những thiệt hại cũng như thất thoát về vốn xảy ra trước hết là từ việc sử dụng vốn của KH. Chi KH mới có day đủ thông tin về chất lượng, hiệu qua của khoản 11192957 — Nguyễn Thị Thùy Linh 3 Chuyên dé tốt nghiệp chuyên ngành Toán Tài chính vay tín dụng đó, vậy nên dé hạn chế tình trạng thông tin bat cân xứng thì Ngân hàng cần tập trung nghiên cứu thông tin về KH, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mỗi quan hệ minh bạch giữa cán bộ tín dụng và KH, kiểm soát việc sử dụng vốn vay của KH, kiểm soát việc sử dụng vốn vay của KH và đưa ra những biện pháp kịp thời; - Tính tat yếu: NHTM luôn phải đối mặt với RRTD khi thực hiện hoạt động cho vay, bởi RRTD gia tăng cùng với sự theo đuôi mục tiêu gia tăng lợi nhuận. Do đó, các NHTM cần đánh giá cân thận khi ra quyết định cấp tín dụng dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích phù hợp với mức chấp nhận rủi ro. Theo đó, Ngân hàng sẽ hoạt động hiệu quả nếu mức rủi ro mà họ gánh chịu là hợp lý, có thé được kiểm soát và nằm trong năng lực tín dung của Ngân hang.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng — Nguyên nhân khách quan: là nguyên nhân do môi trường bên ngoài tác động vào, thường khó kiêm soát, có thé liệt kê như sau: > Do môi trường chính trị, kinh tế không ổn định: khi nền kinh tế tăng trưởng và ôn định thì hoạt động tín dụng cũng sẽ tăng trưởng theo và ít rủi ro hơn. Ngược lại, nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái thì sản xuất kinh doanh của KH bị thu hẹp hoặc đình trệ dẫn tới thua lỗ và phá sản, lúc này chính Ngân hàng sẽ chịu khả năng rủi ro không thu được nợ. Cơ chế - chính sách có thê làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN của nhà nước thay đổi có thê thuận lợi hay khó khăn; > Do các yếu tố của môi trường tự nhiên: có thé ké đến thiên tai, dịch bệnh làm cho tình hình kinh doanh của DN sẽ bị tốn thất lớn hoặc kế hoạch kinh doanh gặp nhiều khó khăn, đồng nghĩa với việc Ngân hàng cũng không dé gì có thé thu hồi lại nợ; > Do môi trường pháp lý: còn nhiều khe hở trong áp dụng thi hành pháp luật khi luật và các văn bản có liên quan chưa được đồng bộ, đặc biệt là quy định về các NHTM có quyền xử lý TSBD nợ vay khi KH không trả được nợ. Nhưng trên thực tế, các NHTM không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước nên không có chức năng cưỡng chế, do đó phải đưa ra Tòa án xử lý và sẽ tốn không ít chi phi phat sinh.
— Nguyên nhân chủ quan 11192957 — Nguyễn Thị Thùy Linh 4 Chuyên dé tốt nghiệp chuyên ngành Toán Tài chính > Từ phía KH, chủ yếu có thể do sử dụng vốn sai mục đích hoặc không có thiện chí trong việc trả nợ, cụ thê đối với phạm vi đề tài chỉ tập trung vào KH doanh nghiệp. Có rất nhiều lý do để KHDN không trả nợ đúng hạn như: Thị trường sản pham của DN sản xuất ra không tiêu thụ được, kém khả năng cạnh tranh, kém chất lượng: Tình hình tài chính DN yếu kém, thiếu minh bạch, nội bộ DN có tình trạng tham nhũng, gian lận; DN có sự thay đổi nhân sự hay chủ sở hữu hoặc kha năng quan lý điều hành bộ máy quản trị DN yếu kém; > Từ phía ngân hàng, RRTD có thể bắt nguồn từ nguyên nhân chính sách tín dụng của Ngân hàng còn thiếu khoa học, chiến lược, thiếu chặt chẽ, gây cản trở hoạt động kiểm tra giám sát làm ảnh hưởng đến quyết định đối với một khoản vay hoặc có thể gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Hoặc do Ngân hàng quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh. Quản trị rủi ro tín dung 1.
Khai niệm quản trị rủi ro tin dụng Quản tri RRTD là vấn đề cốt lõi trong sự ton tại của phần lớn các Ngân hàng theo quan điểm của Creuning và Bratanovic (2003). Trong khi Kloman, Haimes và một số nhà kinh tế nồi tiếng trên thế giới cho rằng “Quản tri rui ro là qua trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những ton that, mat mát và ảnh hưởng bat lợi của rủi ro ”. Ngoài ra có thé hiểu quản trị RRTD trong ngân hàng là một quá trình bao gồm việc tô chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động, các quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng nhằm đảm bảo an toàn tín dụng. Công việc này được bắt đầu ngay khi xem xét hồ sơ vay vốn, thâm định KH, ký kết hợp đồng tín dụng, thực hiện giải ngân và kiểm soát khi cho vay đến khâu thu hồi nợ và xử lý nợ quá hạn.
Sự can thiết của quan trị rui ro tín dụng trong hoạt động cho vay tai Ngân hàng Trong một môi trường kinh tế vẫn còn tiềm ân nhiều rủi ro, nếu Ngân hàng yếu kém trong khâu quản trị rủi ro tín dụng thì sẽ rat dé rơi vào thé bi động nếu có rủi ro ngoài mong đợi xảy ra, không chỉ gây tôn thất về vốn mà còn thiệt hại về danh tiếng một khi RRTD xảy ra. Chính vì thế, quản trị RRTD là vấn đề tất yếu 11192957 — Nguyễn Thị Thùy Linh 5 Chuyên dé tốt nghiệp chuyên ngành Toán Tài chính đối với Ngân hàng nhằm hạn chế tối đa rủi ro và đảm bảo mục tiêu hoạt động kinh doanh “ôn định, an toàn và lợi nhuận”: - Quản trị rủi ro tín dụng giúp Ngân hàng hạn chế các khoản nợ khó thu hồi gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng do luồng vốn bị ứ đọng từ đó làm giảm vòng quay vốn của Ngân hàng. Ngoài ra, uy tín của Ngân hàng có thể được đảm bảo do một khi có rủi ro tín dụng xảy ra, đặc biệt là khi rủi ro này xảy ra liên tiếp, ở mức độ lớn và phạm vi rộng, nếu Ngân hàng có sự chuẩn bị trước dé kịp thời ứng phó thì có thé giảm thiểu nguy cơ phá sản và xoa dịu hiệu ứng lan truyền trên thị trường tín dụng, chứng khoán, toàn bộ thị trường tài chính ngân hàng; — Quản trị rủi ro tín dụng giúp Ngân hàng hoạt động kinh doanh ồn định, an toàn và lợi nhuận: nếu Ngân hàng có phương pháp kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả như xây dựng chính sách tín dụng rõ ràng, đào tạo vững nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng hay có sự giám sát, quản lý sau cho vay thì chính bản thân Ngân hàng có thê tránh được thất thoát, tăng doanh thu, lợi nhuận và bảo toàn vốn, tạo lòng tin từ phía KH và nhà đầu tư, mở rộng thị phần trên thị trường cạnh tranh. Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel và một số văn bản pháp luật tại Việt Nam a.
Quản trị rủi ro tín dung theo Hiệp ước Basel Uy ban Basel đã xây dựng và cải tiến khung quản trị rủi ro từ Basel I, Basel II và mới đây nhất đến Basel III, là hiệp ước được hoàn thiện và lần đầu được giới thiệu năm 2010 nhằm khắc phục hạn chế và có nhiều sự hoàn thiện so với hai Hiệp ước trước đó. Tính đến thời điểm hiện nay, còn rất nhiều Ngân hàng tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện quy trình áp dụng tiêu chuẩn Basel II. Đối với Basel L, rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng được đo lường một cách cơ bản thì sang đến Basel II giới thiệu một chuỗi các phương pháp tiếp cận mới có thể đo lường rủi ro tín dụng phức tạp hon va tập trung thêm vao rủi ro hoạt động, theo đó, “hiệp ước Basel II vẫn được xây dựng nội dung dựa trên cơ sở gồm 3 tru cột, trong do: - Trụ cột Ila các quy định về vốn đã kết hợp cả rủi ro hoạt động vào công thức tinh vốn toi thiểu yêu cầu.