Chương 1 VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 1. Vị trí của phụ nữ trong mối quan hệ với quốc gia - dân tộc. Chính trị là sự tham gia vào những công việc của Nhà nước, của quốc gia, dân tộc. Đất nước là của chung của cả giới nam, nữ.
Điều đó có nghĩa là nam - nữ có vị thế bình đẳng trong mối quan hệ với quốc gia - dân tộc: “Phụ nữ chủ nghĩa khi mới phát sinh thì chỉ yêu cầu cho đàn bà được có quyền công dân như đàn ông, nghĩa là yêu cầu bình đẳng trên chính trị” [64,tr. Thế nhưng, trong xã hội phong kiến ở nước ta, người phụ nữ lại không được tham dự vào các công việc chính trị của đất nước. Nho giáo xây dựng mẫu người quân tử để cai trị xã hội nên không bàn đến người phụ nữ trong các công việc của đất nước. Đến đầu thế kỷ XX, xã hội nước ta chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến.
Chính sự chuyển biến Âu hóa lại trở thành tiền đề cho sự chuyển biến về số phận và vị thế của người phụ nữ. Với việc đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa ở nước ta của thực dân Pháp trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, người phụ nữ đã cuốn vào các hoạt động rộng lớn đó và trở thành mối quan tâm chung. Sự tiếp xúc và hội nhập với văn hóa phương Tây đã làm cho tầng lớp phụ nữ Việt Nam nhanh chóng trở thành một lực lượng xã hội quan trọng, dần tham gia và khẳng định được vị thế của mình với quốc gia dân tộc. Vấn đề phụ nữ đã trở thành diễn đàn sôi nổi trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, trên báo chí và các hoạt động xã hội khác.
Trong đó, Phan Bội Châu là một nhà “nữ quyền” giai đoạn đầu thế kỉ XX ở nước ta. Trong giai đoạn trước năm 1925, Phan Bội Châu đã có nhiều tác phẩm thức tỉnh, động viên và ca ngợi những người phụ nữ tham gia vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Qua lời khuyên chồng, người vợ đã ý thức sâu 11 Luan van sắc về nỗi cay đắng, nhục nhã của thân phận nô lệ (“Hơn bốn chục năm trời, / Đem thân làm nô lệ, / Cúi đầu làm nô lệ!/ Nỗi cay đắng xiết kể, / Nói ra những sầu bi.176]); thức tỉnh tinh thần dân tộc và khích lệ chồng tham gia phong trào cách mạng (Chàng con nhà thi lễ, /Vốn nòi giống Lạc Hồng, /Lẽ nào chịu trong vòng, /Cho quân Tây đầy đọa, /Cho quân thù đầy đọa! /Thiếp xin chàng tạc dạ: /Này cách mạng cơ quan, /Kịp tổ chức kết đoàn, /Làm sao cho nghiêm nhặt. /Làm thế nào cho nghiêm nhặt!” [74, tr.
Trong Hải ngoại huyết thư (1906), cụ Phan ngợi ca sức mạnh của người phụ nữ đấu tranh giải phóng dân tộc: “Giang sơn làm nổi cơ đồ, /Ấy là bậc nữ trượng phu nước mình” [74,tr. Cụ đã cổ động chị em noi gương các nữ anh hùng xưa: “Nào nữ kiệt nước Nam đâu tá? /Trải xưa nay chuyện lạ bao giờ! /Từ ngày nội thuộc khi xưa, /Họ Trưng hai ả là vua anh hùng, /Việc nữ tướng xem trong sử lược, /Bùi Thị Xuân thở trước đem quân, /Cùng phường cân quắc thoa quần, /Mày râu lắm kẻ chịu phần kém thua” [74, tr. Ông động viên các chị em “Ghé vai vào gánh cương thường” [74, tr. Trong Tân Việt Nam (1907), cụ Phan đã khẳng định địa vị quan trọng và quyền lợi của người phụ nữ: “về các sự nghiệp chính trị người phụ nữ có quyền lợi không cùng.
Có chú trọng việc giáo dục thì mới bỏ được riêng tư mà theo công lợi, mới làm cho nước nhà giàu mạnh tấn tới, nên chi trong nước nếu không có phụ nữ yêu nước, thì nước ấy sẽ phải làm đầy tớ người mà thôi” [74, tr. Ở giai đoạn này, Phan Bội Châu đã xây dựng rất thành công các nhân vật phụ nữ có lí tưởng sống cao đẹp, giàu ý chí, giàu nhiệt huyết cách mạng, không cúi đầu cam chịu trước những bất công, áp chế của chính quyền thực dân Pháp. Trong vở tuồng Trưng Nữ vương (1911), nhân vật Trưng Trắc là người phụ nữ yêu nước, căm thù giặc và nuôi chí lớn: “Vốn sơ tâm thiếp đã nguyện cùng thiên địa, xin đem mình phò với giang sơn… /Cứu lấy dân đương lúc lầm than /Dầu hy sinh tính mệnh với giang sơn, ấy lòng thiếp mới đành cùng chủng 12 Luan van tộc. Đến Trùng Quang tâm sử (1918), nhân vật cô Chí, cô Triệu, cô Liên,… là những nữ anh hùng tài trí, giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, ý thức sâu sắc nỗi nhục mất nước, theo nhau vào trại Trùng Quang hợp sức với tu mi nam tử làm cách mạng để giải phóng dân tộc.
Đặc biệt, trong Sùng bái giai nhân, tác giả đã ca ngợi nghĩa cử vô cùng cao đẹp của mẹ Lân - một người phụ nữ bình thường nhưng vì lòng yêu nước mà đã hăng hái thúc giục con trai và con rể lên đường chiến đấu… Đây cũng là đóng góp mới mẻ của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ so với các tác giả đương thời. Nhưng từ sau năm 1925 - thời kì Ông Già Bến Ngự, quan điểm của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ trở nên sâu sắc và toàn diện hơn. Sự chuyển biến đó trong quan niệm, trong sáng tác của tác giả là do sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan. Trước hết, do sự quản thúc gắt gao của thực dân Pháp, Phan Bội Châu gần như phải cắt đứt hoàn toàn với phong trào cách mạng của dân tộc, các hoạt động chủ yếu của ông là viết sách báo.
Đặc biệt, vào thời điểm này (những năm 20 - đầu thế kỉ XX), phong trào phụ nữ phát triển mạnh mẽ trên thế giới và có ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội. Vấn đề phụ nữ đã thu hút nhiều học giả và trở thành một diễn đàn sôi nổi trên báo chí, trong xã hội. Là một nhà nho, một nhà yêu nước tiến bộ, Phan Bội Châu đã sớm nhận ra điều đó. Vì thế, từ sau năm 1925, cụ Phan dành sự quan tâm, ưu ái về vấn đề phụ nữ trong các sáng tác và các hoạt động xã hội của mình.
Trước hết, Phan Bội Châu luôn dành cho nữ đồng bào những tình cảm vô cùng trân trọng. Phan Bội Châu đã thấy địa vị của người phụ nữ đối với quốc gia dân tộc. Trong Bài diễn thuyết tại trường Nữ học đồng khánh Huế 17/3/1926, tác giả khẳng định: “Nữ đồng bào ta thiệt là một phần rất cao quý trong loài người mà thứ nhất là một phần rất cao quý trong dân nước ta”. Ông ví chị em phụ nữ như “một hột châu tươi sáng”, như “một cái bông lan rất thơm tho” [79, tr.
Điệp từ “cao quý” kết hợp với các 13 Luan van hình ảnh so sánh vô cùng đẹp đẽ đó đã mở ra một cái nhìn mới về người phụ nữ: các nữ đồng bào là một lực lượng không thể thiếu của xã hội, của dân tộc. Họ cao quý bởi chính họ là người tổ nước ta, họ đã gánh công sinh dục mà sáng tạo ra con người: “Khi đó vô luận nước nào hoặc châu nào cũng chỉ có vài người tổ thứ nhất tức là một người gái một người trai; hai người đó chia vai mà gánh công sinh dục, dòng họ nhờ đó mà nảy nở, nòi giống nhờ đó mà lâu dài; từ hai mà bốn, bốn mà tám, tám mà mười sáu, cho đến thiên thiên, vạn vạn, ức ức, triệu triệu như ngày nay. Suy nguyên cho đến gốc cây nguồn nước, gây mối là ai, mở đầu là ai, chắc là nhờ hai người tổ thứ nhất đó, tức là một người trai và một người gái. Họ cao quý bởi nhờ họ mà nòi giống của đồng bào ta được duy trì, được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, giúp đồng bào ta tránh được nguy cơ tuyệt diệt: “Huống chi trong lòng mẹ nước Việt Nam sinh ra, ai nấy chẳng là một người con quý báu, vẫn đáng kêu là chị, vẫn đáng kêu là em, vẫn đang kêu là cô, dì, thím, mợ.
Nếu không có những món người ấy, lấy gì mà đủ hai mươi lăm triệu đồng bào, trong hai mươi lăm triệu đồng bào ta nếu không có các chị em, thì hai mươi lăm triệu đồng bào ta sau này ắt phải tuyệt diệt” [79, tr. Trong Bài diễn thuyết tại trường Nữ học Đồng Khánh Huế 17/3/1926, Phan Bội Châu không chỉ thấy người phụ nữ là một phần của đồng bào mà còn là đấng sinh thành ra đồng bào ta - “mẹ quốc dân”: “Hai mươi triệu lẻ đồng bào, ai nấy cũng là một phần quốc dân cả; có quốc dân mới nên một nước. Huống chi các chị em lại là mẹ của quốc dân; biết bao nhiêu ông chủ nhân trong nước sau này đều nhờ các chị em sinh nở ra, đùm bọc lấy, dạy bảo vun trồng” [79, tr. Làm “mẹ quốc dân” là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ: “Đôi vai thân gái/Gánh nợ nhiều bề /Gánh gì nặng hơn /Là gánh làm mẹ /Nói chung cả nước /Làm mẹ quốc dân” [80, tr.
Nhưng đó cũng là thiên chức vô cùng cao quý của người phụ nữ mà chúng ta cần phải 14 Luan van trân trọng: “Song le con gái /Lại cần thiết hơn /Bởi mẹ quốc dân /Là phần con gái. Như vậy, Phan Bội Châu đã đề cao vai trò, địa vị của người phụ nữ đối với quốc gia, dân tộc. Ông đánh giá người phụ nữ từ phương diện giới tính. Đây là một quan điểm mới về người phụ nữ của Phan Bội Châu so với các nhà văn trước đó và đương thời.
Theo Phan Bội Châu, người phụ nữ có khả năng gánh vác việc nước như người nam giới: “Dù gái dù trai /Gánh chung việc nước” [80, tr. Trong xã hội phong kiến, gánh vác việc nước - việc quốc gia đại sự là trách nhiệm của người nam nhi, người phụ nữ không được can dự. Phan Bội Châu đã khẳng định vị thế và trách nhiệm của người phụ nữ với đất nước trong sự bình đẳng với người nam nhi. Tư tưởng đó được cụ tiếp tục khẳng định trong Vấn đề phụ nữ: “Gánh việc quốc gia, trả thù đánh giặc, con trai làm được lẽ đâu lại cấm con gái không được làm” [79, tr.
Điều đó có nghĩa là Phan Bội Châu đã nhìn nhận, đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông“đã đặt vận mệnh của người phụ nữ gắn liền với vận mệnh dân tộc” [110]. Phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.