CHƯƠNG 1. CO SG Li LUAN VE PHAT TRIEN VON TU CHO TRE 3-4 TUOI QUA TRAI NGHIEM 1. Téng quan về lịch sử vẫn để nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về phát triển sắn từ cho trẻ mẫu giáo 3 =4 tuổi 4, Nhitng nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một trong những nội dung quan tong tong giáo dục học mằm non, đặc biệt là phát triển vốn tử.
Nhận thức được t quan trọng của vẫn để này, có nhiễu nhà khoa học, nhà giáo dục học,. đã dành tâm huyết để nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình, bài iết phát triễn ngôn ngữ nổi chung, phát triển vốn từ nồi riếng cho trẻ ở lứa tuổi mằm non, chẳng hạn như: Nhà tâm lí học người Nga L.Vygotsky (1997) cho rằng ngôn ngữ là công cụ tâm lí quan trọng nhất của một nền văn hóa. Theo ông: "Khi gốp phải những khó khẫn trong cuộc sống, trẻ tham gìa vào sự hợp tác với người lớn và bạn cùng trang lứa có năng lực cao hơn; những người giúp đỡ và khuyến khích trẻ Trong n tan hệ hợp túc này, ngôn ngữ là phương thức đủ tiên mà qua đã con người trao đổi các giá trị xã hội, là phương tiện vô cùng quan trọng đổi với sự phát triễn của từ dưy Lý thuyết hành vi chủ nghĩa Skinner E.
gỉ nhận rằng ngôn ngữ được từng bước xây dựng thông qua việc trẻ bắt chước ngôn ngữ của người lớn và cảng cố đường xuyên Các tác gid hu Brunet J, Kapp KM. đã có những nghiên cứu cụ thể các nội dung của việc phát triển ngôn ngữ như nghiên cứu về mặt ngữ âm, ngữ pháp, các đặc điểm. PTVT của t, việc phát triển lời nói mạch lạc của trẻ. ở những độ tuổi khác nhau ‘Tc gi Barods A.
tong ti phẩm Piương pháp phát iết tổn tẻem nhận din ring vig giáo dục lồ nói cho e phi bắt đầu từ ắt sớm, ừ khi mà trẻ còn chứa đến trường học. Các tác gi Piaget, Skinner, Lenneberd,. rất đề cao git va tim quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát tiễn tư duy của rẻ. Ngôn ngữ không chỉ là phương điên gio iế giúp rẻ lĩnh hội các giá ị đạo đúc và chuẳn mực xĩhội mà còn công cụ giấp trẻ cóthẻ tấp nhận nhân thức vềthề giới xung quanh Nhà giáo dục học người Nga - E.LTikhêva (1997) đã mắt rất nhiều năm.
cho việc nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn nữ trẻ em ở lửa tuổi mẫu giáo một cách có hệ thống. Trong tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em (dưới. tudi đến trường phổ thông " tác giả cho rằng: *PTVT huy phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải luôn gẵn với việc phát triển nhận thức của trẻ. Nẫu nhự trẻ phát trign bình thường thì vẻ mất ngôn ngũ, mỗi từ mà trẻ học được sẽ trơng ứng với mộ biÂu tương mà trẻ đã thu nhận trước đồ” Vi vay, dé phat triển vốn từ cho trẻ không có con đường nào khác ngoài con đường kinh nghiệm và quan sát bởi lẽ ứng với một từ là một khái niệm, một biểu tượng.
Do đó, Do đó, đối với trẻ ở độ tuổi mam non, việc tiếp nhân để mở rộng vốn từ là con đường trực quan sinh động. Thông qua trực quan: bằng việc đạy từ đối chiếu với vật thật, tranh ảnh, bằng hình thức kế huyện, trò chơi hay nhúng vào môi trường thực ti (tham quan khám phá) được xem là cách hiệu quả để làm giàu vốn từ cho trẻ.ILTikhêva, việc cung cấp từ vựng cho trẻ trước hết là từ - biểu tượng chit không phải là từ - âm thanh. Việc cung cấp biểu tượng cho trẻ cũng chính là làm gu từ ngữ ở tr Tic gid McDevitt M., Ormrod và Otto Beverly cho rằng trẻ đã bắt đầu bap be và tao ra những loại âm thanh giống như lời nói ngay tử tháng thứ 7 Trẻ chỉ có thể tạo ra những cầu từ đầy đủ cấu trúc câu và phức tạp hơn khỉ bước vào lứa mỗi mằm non. Sang tuổi chuẩn bị vào lớp l, rẻ mới có phần sử dụng ngôn ngữ giống với người lớn.
Các tác giả này còn nhận định “Để có thể hiểu và sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả, bản thân đứ trẻ phải nim vũng được các yêu tổ cơ bản của ngôn ngữ đó chính là ngữ âm, phát âm, cấu trúc từ vựng, nghĩa của từ, ngữ pháp, cách ghép các tử thành cụm tử, câu dễ hiểu và ngữ dụng v cách tham gia vào giao tiếp hiệu quả, được xã hội chấp nhận “Trong một nghiên cứu, tác giả L nda Clark & Catherine Ireland (1994) da đưa ra khẳng định: “Ở thời điểm 3 tuổi, trẻ đã có thể nhớ được những việc xây ra hôm qua, lên kế hoạch cho ngày mai, phát âm đã khá hoàn thiện, trẻ có thể nhận thức được người lạ khoảng 85⁄0, có khả năng dùng danh từ để đặt tên đồ vật dùng tính từ để miêu tả đỗ vật; khi được 4 tuổi. vốn từ của trẻ tăng lên Tð tộc câu hỏi của tẻ về sự vật, hiện tượng trong thế giới xung guanh phức tạp hơn, trẻ đã dẫn nắm được quy luật của việc dùng từ (khi nào đồng ‘m@t”, khi nào dùng *những”)” Nghiên cứu của tác giả Paul. Morgan và cộng sự (2015) đã chỉ rõ, "mật trong các yếu tổ ảnh hưởng đẩn khả năng ngôn ngữ của trẻ là sự thiểu von từ trong diễn đạt cảm xúc, ý tưởng. Lễ hồng vốn từ thường bắt đầu xảy ra.
với trẻ híc 2 tudi và diều này làm tăng nguy cơ phát triển kém về khả năng đọc sau này”, "Số lượng từ mà trẻ có sẽ quyết định khả năng giao tiếp của trẻ; trẻ biết càng nhiều từ tì sẽ cùng nh hội được nhiều thông in, cơ hội tiếp xúc với môi trường xung quanh càng nhiễu. (Quan diém cia te gid Lenneberg cho ring giai đoạn mà tr tuệ và ngôn ngữ của trẻ được phát triển vượt trội chính là giai đoạn trẻ được 2-3 tuổi. cũng đồng quan điểm và nêu nhận định của mình rằng trong các thời kì phát triển trí tuệ của trẻ thì ngôn ngữ cũng được phát triển rất nhanh chóng đặc biệt Tà giải đoạn 0-2 tuổi được xem là thời kì cảm giác vận động, giai đoạn 2-7 tuổi được xem là thời kì thao tác Như vậy, theo các quan điểm trên có thể thấy một đứa trẻ giàu về vốn từ dang dùng lời để diễn đạt những suy nghĩ, những cảm xúc của mình. Trẻ hiểu được chỉ dẫn của người lớn, của GV thì các hoạt động trí tuệ, các thao tác tự duy của trẻ được chính xác, kích thích trẻ tích cực hoạt động, ích thích trẻ nói và sự hiễu biết của trẻ ngày cing được nẵng lên.
Diễu này thể hiện quan trọng của phát triển vấn từ trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ 1b, Những nghiên cứu trong nước 6 trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Tác giả Đỉnh Hồng Thái (2017) trong giáo trình “Đi triển ngôn ngữ tuổi mẫn non” đã chỉ rõ vai trò của việc phát triển ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ. Trong đó, tác giả cũng đưa ra những biện pháp, hình thức PTVT cho trẻ mẫu giáo ở từng độ tuổi Gio wink Phuong phip phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tdi của nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2008) đã nêu sơ lược về nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn tử, dạy tẻ nói đúng ngữ pháp và phát tiển ngôn ngữ mạch lạc cho tr. Ngoài ra, giáo trình còn góp phần khẳng định tằm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo đục toàn diện cho trẻ.
“Tác giả Nguyễn Thị Oanh (2000) trong Luận ấn của mình cho rằng “rẻ lọc tiếng mẹ đẻ nhờ những ấn trong tng quát chí Không tách bạch từng nội dung. Tré học nghĩa của từ và khả năng diễn đạt bằng lời nồi một cách mach lạc thông qua việc tích cực tiếp xúc với các cuẩn truyện tranh, thông qua việc miàu tà đổ chơi mà rẻ tí, Nghiên cứu lượng từ mà trẻ lĩnh hội, tích lãy được ở tùng độ tỏi để từ đó đề ra chiến lược đạy học phù hợp được các nhà giáo dục quan tâm. “ác giả Lưu Thị Lan (1994) đã chỉ ra rằng bước sang độ tuổi thứ 3, số lượng từ trẻ có được khoảng 486 từ nhưng đến cuỗi năm 3 tuổi thì số lượng từ mmà trẻ tích lấy được tăng đến 107%. Tuy nhiên, đến cuỗi năm trẻ được 4 ti, số lượng từ mà trẻ tích lũy được chỉ tăng 40,58% so với đầu năm 4 tuổi (khoảng 1035 từ).
Những từ ngữ thông dụng đáp ứng với giao tiếp hàng ngày, đã có trong kho từ vựng cá nhân của tẻ, Điều này cho thấy nhu cầu khám phá hiểu thế giới xung quanh, nhu cầu giao tiếp với mọi người ủa tẻ lúc này nãnh li “Càng bàn về vốn từ của trẻ, rong cuỗn PÄương pháp phát tiễn ngôn ngữ ho trẻ mẫu giáo Nguyễn xuân Khon, (1999), cho biết sỗ lượng từ mà trẻ có thể sử dụng được ở năm 3 tuổi là 1300 từ (wong đó danh từ và động từ chiếm ỉ lệ lớn), vốn từ của trẻ ở năm 4 tuổi khoảng 1900-2000 từ (danh tử và động từ vẫn chiếm ưu thể, tính từ và các loại từ khác chỉ mới xuất hiện và ít sử dụng hơn, Điễu này phù hợp với quy luật nhận thức của trẻ: bao giờ cũng muốn biết tên gọi của sự vật, hiện tượng trước (là các danh tì), rồi mới đến bản chất của sự vật (hưởng biểu thị bằng tính tử). Đẳng thời, tác giả cũng nêu ra những lỗi phát âm thường gặp của trẻ, nguyên nhân dẫn đến các lỗi đó và một số trỏ chơi nhằm luyện phát âm chuẩn xác cho trẻ, hướng đến mục tiêu chính là phát tiễn vốn ti Nguyễn Thị Phương Nga (2006) trong "Giáo trình Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mằm non” đã viễt “Ngôn ngữ của tẻ 3 mỗi phát triển ắt nhanh, vẫn từ của trẻ tăng gdp Š lần so với lúc 2 mỗi, trẻ có khả năng sử dlung trang binh khoảng 1000 từ, các từ sử đụng có thé phan chia mat eich wie lệ như sau: 60%: danh từ, 20% động từ, 10% danh từ riêng và 10% các từ loại khác nhau như tính từ, đại từ. “Tác giả Phan Thiểu với công tình nghiên cứu Dụy nói co trẻ nước tri cấp 1 đã khái quát các đặc sm phat m ngôn ngữ của rẻ để từ đó kiến tạo nội dung, phương pháp và biện pháp, hình thức để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.