Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại BIDV-CN Kiên Giang. Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại BIDV-CN Kiên Giang. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian qua vấn dé tín dụng NHTM đã được nhiều tác giả nghiên cứu và bảo vệ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM trong thời gian qua, bao gồm: + Tác giả Hoàng Nguyên Tuấn (2015) với dé tai: “Nang cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Té-CN TP.HCM đến năm 2020”-Luận văn Thạc sĩ kinh tế, xác định: Đề tài đưa ra quan điểm về CLTD, các chỉ tiêu phản ánh CLTD của NHTM, giới thiệu mô hình định lượng đánh giá tín nhiệm TD đối với KH vay vốn, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLTD và thực trạng công tác quản lý CLTD tại NHTMCP Quốc Tế-CN TP.HCM trong thời gian qua. Từ đó đưa ra giải pháp góp phần nâng cao CLTD tại NHTMCP Quốc Tế-CN TP.HCM trong thời gian tới + Tác giả Nguyễn Văn Thụy, Đặng Ngọc Đại (2014) có bài viết:” Anh hưởng của năng lực cạnh tranh đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM-Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 203(11) tháng 5/2014, trang 99-110, xác định: Nghiên cứu này nhằm khám phá các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh và xác định ảnh hưởng của nó tới kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cô phần (NHTMCP) tại TP.
Phương pháp nghiên cứu qua 2 bước sơ bộ và chính thức thông qua phỏng vấn các nhà quản trị ngân hàng. Nghiên cứu sơ bộ nhằm đánh giá thang đo thông qua hệ số Conbach's Alpha va phan tích nhân tố khám phá (Exploration Factor Analysis - EFA). Nghiên cứu chính thức nhằm kiểm định lại thang do bing phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) và giả thuyết thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Model - SEM). Kết quả cho thấy có 5 nhân tố năng lực cạnh tranh tác động lên kết quả kinh doanh của các NHTMCP.
Các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng nhất là khả năng quản trị rủi ro, khả năng tài chính, khả năng marketing. + Tác giả Đào Quang Huynh, Đoàn Thị Thu Hà (2014) có bài viết:” Chất lượng dịch vụ tín dụng tại hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”-Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 201(11) thang 3/2014, trang 114-118, xác định: Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh nhu cầu tín dụng gia tăng từ phía các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế, còn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong thực hiện cung ứng dich vu tin dung. Chất lượng dịch vụ tín dụng là vấn đề cần được nghiên cứu. Bài viết này đi vào phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ tín dụng tại thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam dựa trên mô hình SERVPERE.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra, để nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng trong giai đoạn tới hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần hoàn thiện chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng, năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên và điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa các đề tài của các tác giả đã nghiên cứu trong nước trước đây, tác giả nhận thấy ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học nào đề cập một cách hệ thống lý luận về phát triển tín dụng và hệ thống một số nhóm chỉ tiêu đánh giá phát triển tín dụng trong quá trình hội nhập. Vì vậy, đề tài “Phát triển tín dụng khách hàng doanh nghiệp tai BIDV- CN Kiên Giang” được phát hiện nhằm bổ sung phần nghiên cứu còn thiếu và rất cần thiết. Để có cái nhìn hoàn thiện về phát triển tín dụng của NHTM, tác giả đã kế thừa và nghiên cứu, phát triển ở khía cạnh mới trong để tài mà các tác giả trước đây chưa quan tâm CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE PHAT TRIEN TIN DUNG KHACH HANG DOANH NGHIEP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
KHÁI QUÁT TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA. NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm và phân loại tín dụng của NHTM 1. Khái niệm tín dụng của NHTM Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời và tồn tại nhiều hình thái kinh tế xã hội.
Từ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là credtium có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên cần vốn và một bên có vốn nhàn rỗi đã xuất hiện quan hệ tín dụng. Niềm tin mà người cho vay đặt ở KH vay đó là sự hoàn trả đúng hạn cá vốn lẫn lãi, niềm tin đó thật sự trọn vẹn khi nào quá trình vận động ngược chiều một lượng giá trị tiền tệ từ người vay trở về người cho vay. Vậy ta có thể hiểu: Tin dung là sự vận động của giá trị từ người cho vay sang người đi vay và sẽ quay về với người cho vay cả vốn và lãi trong kỳ hạn xác định.
Hay “Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định"[12, tr. Tóm lại: Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thê trong nền kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD 2010 (bô sung sửa đổi) nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo đó: + Đứng trên phương diện NHTM cáp tín dụng (người cho vay) Tín dụng NHTM là quan hệ vay mượn giữa NHTM với các KH trong nên kinh ế, trong đó NHTM chuyển nhượng cho KH (cá nhân, DN và chủ thể khác) qu) sử dụng một lượng giá trị từ nguồn vốn huy động và vốn chủ sở hữu (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Luật các TCTD năm 2004 “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động đề cấp tín dụng”. Luật các TCTD năm 2010 “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận đề tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp TD khác”. Trong đề tài này tác giả nghiên cứu cấp tín dụng NHTM trên phương điện nghiệp vụ cho vay. Vậy: Tín dụng NHTM là quan hê vay mượn phát sinh từ việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân, dân cư với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Nếu nghiên cứu tín dụng trên giác độ nền kinh tế thì tín dụng “1à sự vận động vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu ”, được hiểu: ~ Nếu xét phạm vi hệ thống NHTM thì mỗi NHTM là “khách hàng” vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò người cho vay trên thị trường liên ngân hàng nhằm điều hòa vốn ~ Nếu trên giác độ nền kinh tế: Tín dụng NH 1a quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau giữa các NHTM nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của chính mình và đảm bảo an toàn theo quy định pháp luật trong lĩnh vực tải chính- ngân hàng, trong đó NHTM này chuyển nhượng cho NHTM khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. + Đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng -Thứ nhất: Hoạt động tín dụng ngân hang dựa trên nguyên tắc có hoàn trả ~Thứ hai: Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. ~Thứ ba: Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên tắc có thời gian. -Thứ tư: Hoạt động tín dụng ngân hàng rất nhạy cảm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và chịu sự giám sát chặt chẽ của luật pháp.
~Thứ năm: Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro. Phân loại tín dụng của NHTM [19] Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại tín dụng NHTM như sau: a. Căn cứ vào thời gian vay + Tín dụng ngắn hạn: Hoạt động tín dụng có thời hạn dưới một năm. Đối với khoản tín dụng này thường được dùng đẻ bù đắp sự thiếu hụt nhu cầu vốn lưu động và nhu cầu chỉ tiêu cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn: Hoạt động TD có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu đầu tư tài sản cố định, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư tài sản cố định, nó còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các DN và nhu cầu tiêu dùng cá nhân như: mua sắm các tài sản có giá trị lớn hay đầu tư bất động sản. + Tín dụng dài hạn: Hoạt động tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh hay dự án dài hạn như: xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải, xây dựng nhà xưởng mới,. Hiện nay các NHTM đang nâng dan ty trong cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng b.