Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề về tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách trong một khoảng thời gian xác định với khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hàng chứa đụng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Nguyên tắc tín dụng Tín dụng ngân hàng. tín dụng ngân hàng có hai nguyên tắc (Châu Văn Thưởng – Phùng Hữu Hạnh 2013 tr.
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. - Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Bảo đảm tín dụng Bảo đảm tín dụng là việc mà khách hàng sử dụng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình (hoặc của một người thứ ba) để làm cơ sở đảm bảo cho dư nợ tín dụng tại ngân hàng trong một thời gian nhất định. Nếu đến hạn, khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi, thì ngân hàng có quyền phát mãi tài sản đảm bảo của khách hàng để thu hồi nợ ( Châu Văn Thưởng – Phùng Hữu Hạnh 2013, tr.
79-86), Các hình thức đảm bảo tín dụng: - Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp. Đây là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sựu đối với bên kia. 6 - Cầm cố tài sản. Đó là khi một bên (bên cầm cố) dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của chính mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh. Là một hợp đồng, qua đó bên thứ ba – người bảo lãnh, cảm kết với ngân hàng rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người đi vay trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. - Bảo đảm tài sản hình thành từ vốn vay. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng.
Các hình thức cho vay Có các hình thức cho vay sau đây (Châu Văn Thưởng – Phùng Hữu Hạnh 2013, tr. Căn cứ vào thời hạn cho vay: - Cho vay ngắn hạn: Khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống nhằm bù đáp sự thiếu hụt vốn của doanh nghiệp hay nhu cầu chi tiêu ngắn hạn cá nhân. - Cho vay trung và dài hạn: Khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị, đầu tư tài sản cố định, mở rộng sản xuất, thực hiện dự án đầu tư. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Cho vay sản xuất kinh doanh: Đáp ứng nhu cầu bổ sung đầu tư tài sản cố định, mở rộng sản xuất, bổ sung vốn thiếu hụt.
- Cho vay sinh hoạt tiêu dùng: dùng để chi tiêu cá nhân như mua nhà, phương tiện đi lại. Căn cứ vào khách hàng vay - Khách hàng là doanh nghiệp - Khách hàng là cá nhân d. Căn cứ vào phương thức cho vay 7 - Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay theo dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. - Cho vay trả góp: khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đưa chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy nút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hàng và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chỉ vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. - Các phương thức cho vay khác: pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quyết định 1627 / 2001 / QĐ – NHNN và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng , đặc điểm của khách hàng vay. Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng (Châu Văn Thưởng – Phùng Hữu Hạnh 2013, tr. 96-99) là sự xuất hiện những biến cố không bình thường trong quan hệ tín dụng, từ đó tác động 8 xấu đến hoạt động của ngân hàng và có thể làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại : RỦI RO TÍN DỤNG RỦI RO GIAO DỊCH RỦI RO DANH MỤC RỦI RO RỦI RO RỦI RO RỦI RO RỦI RO LỰA CHỌN LỰA CHỌN LỰA CHỌN LỰA CHỌN LỰA CHỌN Hình 1.1: Rủi ro tín dụng (Châu Văn Thưởng – Phùng Hữu Hạnh 2013) a. Rủi ro giao dịch: - Rủi ro lựa chọn: Liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng - Rủi ro đảm bảo: xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sảm đảm bảo và mức an toàn của nó. - Rủi ro nghiệp vụ: Liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay , tái xét và giám xét danh mục cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: - Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế.
9 - Rủi ro tập trung : là mức dư nợ cho vay được dồn một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, việc phân loại nợ và nợ xấu được xác định như sau: Biểu hiện của rủi ro tín dụng chính là nợ xấu ngày càng cao. Nợ xấu là các nhóm nợ thuộc nhóm 3, 4, và 5. - Nhóm 1 (Nợ đủ têu chuẩn) + Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
+ Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi còn lại đúng hạn. - Nhóm 2 (Nợ đủ tiêu chuẩn ) + Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày. + Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) + Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
+ Nợ gia hạn lần đầu + Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) + Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai.
- Nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn) + Nợ quá hạn trên 360 ngày. 10 + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai. + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
Khái quát tín dụng cá nhân 1. Đặc điểm tâm lý giao dịch khách hàng cá nhân Trong giao dịch khách hàng cá nhân thường có tâm lý và đặc điểm sau đây. - Ngại rủi ro khi giao dịch tiền bạc với ngân hàng. - Ngại phiền phức thủ tục khi giao dịch với ngân hàng.
- Ngại giao dịch với ngân hàng sẽ lộ thông tin về thu nhập đối với người có thu nhập cao. - Mặc cảm không dám giao dịch với ngân hàng đối với người có thu nhập không cao. Các sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân Các ngân hàng thương mại có thể có các sản phẩm tín dụng sau đây dành cho khách hàng cá nhân. - Cho vay sinh hoạt tiêu dùng: Được thiết kế và cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu gia đình như mua sắm vật dụng gia đình, mua xe, cưới hỏi, du lịch, chữa bệnh,… - Cho vay hỗ trợ tiêu dùng: Được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có thu nhập ổn định hàng tháng.
Số tiền này nhằm hỗ trợ thêm cho tiêu dùng trong khi chờ đợi thu nhập đến kỳ. - Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà: Được thiết kế và cung cấp nhằm hỗ trợ nhu cầu xây dựng, sửa chữa, trang trí nội thất nhà ở của khách hàng. - Cho vay mua nhà, nền nhà, hoán đổi nhà: được kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu về nhà, đất, và cần sự hỗ trợ tài chính. Tài sản thế chấp trong trường hợp này chính là căn nhà hoặc nền nhà khách hàng mua.