CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1.1 Khái niệm hoạt động TTKDTM [6] a. Thanh toán và các hình thức thanh toán trong nền kinh tế Thanh toán đơn giản là thuật ngữ ngắn gọn mô tả việc sử dụng phương tiện tiền tệ để chi trả giữa các bên trong những quan hệ kinh tế nhất định như thanh toán mua hàng, thanh toán các khoản nợ, thanh toán tiền lương, thanh toán công tác phí, thanh toán tiền đi phép, vv. Các bên thanh toán có thể là giữa các nước khác nhau (trong thanh toán quốc tế); giữa các doanh nghiệp với Ngân sách, Ngân hàng, các cơ quan tài chính; giữa các doanh nghiệp với người mua, người bán, các nhân viên, vv.
Nội dung thanh toán rất phong phú: các khoản thuế, khấu hao, lợi nhuận, các khoản nợ, tiền lương, tiền nhuận bút, vv. Các hình thức thanh toán Phân loại các hình thức thanh toán: - Căn cứ vào tinh chất trực triếp hoặc qua trung gian: + Thanh toán trực tiếp (chi trả trực tiếp và chi trả qua mạng online như Paypal): Là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người trả và người nhận + Thanh toán qua trung gian thanh toán (Ngân hàng, KBNN.) Ở đây Ngân hàng, Kho bạc đóng vai trò là trung gian thanh toáncho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như: trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ). Luan van 7 - Căn cứ vào đặc điểm thanh toán: có thanh toán bằng TM; TTKDTM và phương thức hỗn hợp. + Thanh toán bằng tiền mặt, là tất cả các hình thức thanh toán mà người trả chi bằng tiền mặt hoặc người hưởng nhận bằng tiền mặt, kể cả thanh toán trực tiếp hay qua trung gian thanh toán.
+ TTKDTM là tất cả các hình thức trả tiền qua tài khoản tại Ngân hàng (hoặc các trung gian thanh toán khác) thực hiện bằng các bút toán chuyển khoản hoặc bù trừ công nợ. + Phương thức hỗn hợp là hình thức người trả có thể nộp tiền mặt còn người nhận bằng chuyển khoản hoặc ngược lại 1.2 Sự cần thiết khách quan của hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế thị trường • Một trong những phát minh quan trọng nhất của con người có tính chất thúc đẩy nền văn minh của nhân loại tiến một bước dài là sự phát minh ra tiền tệ. Tiền tệ ra đời và không ngừng được nghiên cứu hoàn thiện nhằm 2 mục tiêu chính: sự tiện lợi và sự an toàn • Trước đây người ta dùng vỏ sò, vỏ hến những vật không có giá trị để làm vật trao đổi, tiếp đến là những thứ có giá trị cao như vàng bạc châu báu làm phương tiện lưu thông và trích trữ. Trải qua quá trình lưu thông những đồng tiền đúc kim loại bằng vàng, bạc hợp kim bị mòn vẹt, không đủ trọng lượng nhưng vẫn được xã hội thừa nhận như những đồng tiền có đủ giá trị.
Lợi dụng hiện tượng người ta dùng tiền giấy để thay thế tiền kim loại trong lưu thông vì những ưu việt của nó như: gọn, nhẹ, dễ vận chuyển • Tuy nhiên tính ưu việt này chỉ phù hợp khi nền sản xuất hàng hoá chưa phát triển, việc trao đổi với số lượng nhỏ trên phạm vi hẹp. Còn khi nền sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, việc trao đổi hàng hoá đa dạng với khối lượng lớn, trên bình diện rộng, dung lượng thị trường và cơ cấu thị Luan van 8 trường được mở rộng, mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều được tiền tệ hoá thì việc thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ nhiều hạn chế như: thanh toán mất nhiều thời gian, vận chuyển không an toàn, bảo quản phức tạp. Ngoài ra mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng và đồng tiền của những nước kém phát triển và đang phát triển thường không được chấp nhận trong thanh toán Quốc tế. • Một trong những chức năng quan trọng của tiền tệ là làm phương tiện thanh toán, trong thanh toán bao gồm thanh toán bằng tiền mặt và TTKDTM.
Các tổ chức kinh tế và cá nhân luôn có nhu cầu thanh toán với nhau các khoản cung ứng dịch vụ và hàng hoá, phục vụ sản xuất và tiêu dùng cho con người. Những nhu cầu này cần được xử lý linh hoạt khi dùng tiền mặt, khi TTKDTM. Đó là những vấn đề mà chúng ta cần đề cập đến • Ngày nay, TTKDTM đang trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, nó đã gần gũi hơn với cuộc sống của mọi người. Khi trình độ sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế ngày càng trở nên đa dạng, các thành phần kinh tế đều mở tài khoản tại Ngân hàng và thực hiện các giao dịch thanh toán với nhau thông quan Ngân hàng.
Từ đó TTKDTM là vấn đề tất yếu phải đặt ra • Cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hoá…, có rất nhiều TTKDTM tiện lợi, an toàn đã, đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa, đặc biệt là giao dịch có giá trị và khối lượng lớn • Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn ở mức phổ biến trong xã hội, tình hình sẽ càng phức tạp và khó kiểm soát hơn.3 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường a. Vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế Khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, TTKDTM đã giữ một vai trò quan trọng đối với từng đơn vị kinh tế, từng các nhân và đối với toàn bộ nền kinh tế. Bất kì một nhà sản xuất nào cũng đều mong muốn đồng vốn của mình tham gia vào nhiều chu kì sản xuất và sinh lời tối đa cho mình, do đó họ muốn sản phẩm của họ làm ra phải được tiêu thụ ngay trên thị trường và thu được tiền để tiếp tục một chu kì sản xuất mới.
Vì vậy vấn đề thanh toán tiền hàng là vô cùng quan trọng, trong quá trình trao đổi mua bán nếu đơn vị dùng tiền mặt thì sẽ gặp nhiều khó khăn về phương diện vận chuyển, bảo quản, khả năng rủi ro cao. TTKDTM được thực hiện qua Ngân hàng thông qua mạng máy tính đã phần nào đáp ứng được nhu cầu nhanh chóng, chính xác cho khách hàng, đảm bảo an toàn vốn và tài sản của họ. • TTKDTM góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội như : in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm. Mặt khác TTKDTM còn tạo ra sự chuyển hoá thông suốt giũa tiền mặt và tiền chuyển khoản.
Cả hai khía cạnh đó đều tạo sự thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và lưu thông tiền tệ. • TTKDTM tạo điều kiện tập trung một nguồn vốn lớn của xã hội vào tín dụng để tái đầu tư vào nền kinh tế, phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước hoạt động tài chính ở tầm vĩ mô, qua đó kiểm soát được lạm phát đồng thời tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động. Vai trò của TTKDTM đối với NHTM Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường quan tâm đến vấn đề thanh toán là an toàn – tiện lợi – quay vòng vốn nhanh. Với những yêu cầu đa dạng của các mối quan hệ kinh tế - xã hội, từ lâu đã có sự tham gia của Luan van 10 Ngân hàng, Ngân hàng trở thành trung tâm tiền tệ tín dụng thanh toán trong nền kinh tế và TTKDTM góp phần không nhỏ vào thành công của Ngân hàng: • TTKDTM tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.
Không những giảm được chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển mà còn bổ sung nguồn vốn cho Ngân hàng thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán của tổ chức kinh tế và cá nhân. Khách hàng gửi tiền vào tài khoản này với mong muốn được Ngân hàng đáp ứng một cách kịp thời chính xã các yêu cầu thanh toán của mình. • TTKDTM thúc đẩy quá trình cho vay: Nhờ có nguồn vốn tiền gửi không kì hạn, Ngân hàng có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình bằng cách cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do Ngân hàng thu hút được một nguồn vốn có chi phí thấp nên trên cơ sở hạ lãi suất tiền vay, khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân vay vốn Ngân hàng để đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh có lãi.
• TTKDTM giúp cho NHTM thực hiện chức năng tạo tiền: Trong thực tế nếu thanh toán bằng tiền mặt, sau khi lĩnh tiền ra khỏi Ngân hàng, số tiền đó không còn nằm trong phạm vi kiểm soát của Ngân hàng nữa. Song nếu thực hiện bằng TTKDTM, Ngân hàng thực hiện trích chuyển từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng, hoặc bù trừ giữa các tài khoản tiền gửi của các NHTM với nhau. Ngân hàng sẽ có một số vốn tạm thời nhàn rỗi có thể sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Vì vậy, khi TTKDTM càng phát triển thì khả năng tạo tiền càng lớn và do đó tạo cho Ngân hàng lợi nhuận đáng kể.
• TTKDTM thúc đẩy các dịch vụ khác: Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình, Ngân hàng không ngừng cải tiến đưa ra các sản phẩm dịch vụ khác nhau vì các sản phẩm dịch vụ này bảo đảm cho Ngân hàng tối đa hoá lợi nhuận. Các dịch cụ này muốn phát triển được cần có sự hỗ trợ đắc lực của TTKDTM mới được thực hiện một cách hiệu quả và TTKDTM được tổ Luan van 11 chức tốt sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng thực hiện các dịch vụ trả tiền với khối lượng lớn một cách chính xác và nhanh chóng, qua đó thu hút được ngày càng nhiều khách hàng.