Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tài trợ thương mại dành cho DNNVV của NHTM Chương 2: Thực trạng hoạt động TTTMQT dành cho DNNVV tại NHTMCP Quân đội – Chi nhánh Thụy Khuê Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động TTTMQT tại NHTMCP Quân đội - Chi nhánh Thụy Khuê 5 ƯƠ 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ T ƯƠ MẠI DÀNH CHO DNNVV CỦA T ƯƠ MẠI 1. Tổng quan về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Cụm từ “doanh nghiệp nhỏ và vừa” ngày nay được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cả ở Việt Nam. Tuy vậy, hiện nay vẫn chưa có một chuẩn mực nào trong việc lựa chọn ra các tiêu chí trong đánh giá loại hình doanh nghiệp.
Nói tới DNNVV, hầu hết các quốc gia đều dựa trên hai tiêu chí là quy mô vốn và số lượng lao động. Mặt khác việc lượng hóa các tiêu chuẩn để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tùy thuộc vào những yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế - xã hội, quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Tại Việt Nam, theo “Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017”, DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Đến tháng 3 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định rõ các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và vừa. Cụ thể như sau: 6 Bảng 1.1: Tiêu chí phân chia quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Lĩnh vực hoạt động Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao động tham gia BHXH Số lao động tham gia BHXH bình quân năm: từ >10 – 100 bình quân năm: từ >100 – Nông nghiệp, lâm người 200 người nghiệp, thủy sản, Tổng doanh thu của năm: từ Tổng doanh thu của năm: từ công nghiệp, xây >3 – 50 tỷ đồng hoặc tổng >50 – 200 tỷ đồng hoặc tổng dựng nguồn vốn: từ >3 – 20 tỷ nguồn vốn: từ >20 – 100 tỷ đồng. Số lao động tham gia BHXH Số lao động tham gia BHXH bình quân năm: từ >10 – 50 bình quân năm: từ >50 – 100 người người Thương mại, dịch vụ Tổng doanh thu của năm: từ Tổng doanh thu của năm: từ >10 – 100 tỷ đồng hoặc tổng >100 – 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn: từ >3 – 50 tỷ nguồn vốn: từ >50 – 100 tỷ đồng. Đặc trưng của DNNVV Thứ nhất, về tính chất hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tập trung ở những khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn.
Trong đó được thể hiện cụ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư. Ngoài ra, doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như: Các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hóa, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. Đồng thời, trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng ở phân đoạn cuối cùng với tư cách là Nhà sản xuất. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa có lợi thế về tính linh hoạt.
Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính nổi trội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhờ 7 cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ hai, nguồn lực vật chất Nhìn chung các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên và công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực vật chất là do quy định của pháp luật và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp. Mặt khác, sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ nhất là trong mối quan hệ với các NHTM nên sự tiếp cận về vốn rất khó khăn.
Điều này gây ra hạn chế trong việc đổi mới trang thiết bị và xúc tiến phát triển công việc cho các doanh nghiệp này. Do đó quá trình tự tích lũy thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ b , ă g lực quả lý điều hành Xuất phát từ tính chất và quy mô mà các nhà quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh. Hầu hết bộ máy quản trị và điều hành đều không tách biệt, không có sự rạch ròi.
Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất thấp so với yêu cầu. Thứ tư, tí h phụ thuộc hay bị động Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị thụ động nhiều hơn ở thị trường. Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ. DNNVV là đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi nền kinh tế biến động theo chiều hướng xấu.
Theo thống kê của Tokyo Shoko Research tại Nhật Bản, năm 2020 có khoảng 1.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản vì Covid-19. Mặt khác, sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường nhất là với những thị trường lớn như ở Mỹ, EU, Nhật Bản các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh về giá cũng như thị trường cung ứng sản phẩm. Vai trò của DNNVV a) Đối với nền kinh tế DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh nghiệp của nền kinh tế và có xu thế gia tăng ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong 8 việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hầu hết các nền kinh tế, DNNVV là vệ tinh của các DN lớn và ngày càng phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng số DN. DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều loại hàng hóa đa dạng ở mọi lĩnh vực, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế. DNNVV đóng góp vào tổng sản lượng của nền kinh tế rất lớn. Theo thống kê của WB, các DNNVV đóng góp hơn 50% GDP tại Mỹ và Nhật Bản,, 42% ở Indonesia, 38,9% ở Philippines, Việt Nam 47% GDP và 40% nguồn thu ngân sách.
DNNVV khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong nền kinh tế bao giờ cũng có những vùng sâu, vùng xa, là những vùng kém phát triển, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng chưa phát triển. Các DN lớn chủ yếu tập trung ở các khu đô thị, các khu công nghiệp mà nếu thiếu đi các DN nhỏ thì sẽ xảy ra tình trạng phát triển mất cân đối giữa các vùng, không tận dụng hết nguồn tài nguyên, làm giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Trong khi đó, với quy mô vốn đầu tư nhỏ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, dễ khởi sự, các DNNVV tham gia vào nhiều thị trường, khai thác tiềm năng về đất đai, tài nguyên và lao động của từng vùng, đặc biệt là các ngành nông, lâm, thủy hải sản và ngành công nghiệp chế biến.
Vì vậy, DNNVV góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, thúc đẩy thương mại dịch vụ phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giúp cho nền kinh tế năng động hơn. Do lợi thế về quy mô vừa và nhỏ nên các DNNVV với các hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. b) Đối với xã hội DNNVV tạo việc làm góp phần giải quyết thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị – xã hội. Do các DNNVV có ngành nghề, lĩnh vực hoạt động đa dạng, đặc điểm SXKD không yêu cầu trình độ cao nên tạo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền khác nhau, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chưa phát triển.
Đặc biệt khi nền kinh tế suy thoái, các DN lớn phải sa thải nhân công thì các DNNVV, có thể thích ứng với sự biến động của thị trường, không phải cắt giảm nhân công. Thực tế cho thấy, lao động trong DNNVV chiếm tỷ 9 lệ đáng kể, thống kê tại Đức và Nhật lần lượt là 55% và 70%. DNNVV được coi là xương sống của sự phát triển kinh tế các quốc gia này. Theo Tổng cục thống kê, tại Việt Nam đến năm 2015 đã có gần 6 triệu lao động làm việc trong DNNVV, chiếm tỷ trọng trên 50% tổng số lao động.
Lý luận chung về tài trợ thương mại quốc tế của NHTM 1. Khái niệm về TTTMQT Trong bối cảnh kinh tế có nhiều kiện để phát triển như hiện nay, hoạt động thương mại cũng ngày càng trở nên sôi động. Đây là một trong những lĩnh vực đầy cạnh tranh nhưng cũng rất hấp dẫn. Hoạt động thương mại ngày càng trở nên sôi động xuất phát từ sự gia tăng trong năng suất lao động, từ sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc, điều này đòi hỏi sự đơn giản và thuận tiện trong thủ tục, sự luân chuyển nhanh hơn của dòng tiền tệ, sự luận chuyển nhanh hơn của dòng hàng hóa.
Sự cạnh tranh ngày càng sâu rộng, sự gia tăng về số lượng các đối tác không chỉ trong nước mà còn ở ngoài nước. Người cung ứng sản phẩm dịch vụ, hàng hoá phải không ngừng tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng - những nhu cầu đó là rất khắt khe và đa dạng. Để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe đó, các doanh nghiệp phải tự thay đổi mình nhất là áp dụng công nghệ mới và nâng cao chất lượng sản phẩm.