CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN VÊ SAN PHÂM BAO THANH TOAN 1. BAO THANH TOÁN VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN SẢN PHẨM BAO THANH TOÁN 1. Khai niêm Có nhiều định nghĩa khác nhau về sản phẩm bao thanh toán (BTT), cac định nghia khac nhau kha nhiêu phụ thuôc vao thời gian va hoan canh. Theo công ước quốc tế về BTT của UNIDROIT 1988 đã đưa ra định nghĩa về BTT như sau: BTT là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
Theo hiệp hội BTT thế giới (FCI), BTT là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo doi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ BTT với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa. Theo như thỏa thuận đơn vị BTT sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng. Theo quy chế hoạt động BTT của các TCTD, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về BTT như sau: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của TCTD cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đa được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ” (QĐ số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 và QĐ số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008).
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm về BTT, nhưng nói 2 chung có thể hiểu BTT chính là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ. Lich sư hinh thanh Sư canh tranh giưa cac nha cung câp hang hoa, dịch vụ trơ nên gay găt hơn khi ho đêu đưa ra cac chê đô ưu đai đê ban đươc hang. Môt trong nhưng chê đô ưu đai đo la viêc ban hang cho tra châm hay còn goi la câp tin dụng cho khach hang. Sau khi câp tin dụng cho khach hang thi phat sinh vân đê thu hôi nơ.
Môt khach hang co thê tra môt khoan nơ thương mai vao cuôi ki han, vi dụ môt thang hoăc co thê lâu hơn. Thưc trang nay lam tôn hai lơi ich cua người ban hang. Thư nhât ho đa tai trơ cho công viêc san xuât kinh doanh cua khach hang, trong khi ho đang cân vôn tai trơ cho công viêc san xuât kinh doanh va ho phai tôn chi phi thuê nhân viên đê đòi nơ, nhăc nơ khach hang va quan ly sô cai ban hang,. Rui ro cao nhât đôi vơi nha cung câp la khi người mua hang không co kha năng tra nơ.
Vi vây đê tranh rơi vao tinh trang nơ kho đòi, bên ban phai kiêm tra thưc trang tin dụng va mưc đô tin nhiêm cua khach hang va ho phai thâm định người mua, nhưng ho lam công viêc nay không chuyên nghiêp băng ngân hang. Vi vây, nha cung câp rât cân sư hô trơ tư phia cac tô chưc tin dụng nên nghiêp vụ BTT đa ra đời đê hô trơ khach hang. Thế kỷ 15 BTT phát triển mạnh ở Anh dưới hình thức đơn vị BTT ứng trả trước một phần tiền bán hàng cho nhà cung ứng sản phẩm. BTT phát triển mạnh ở Mỹ vào thế kỷ 19 thông qua các nhà đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ, ngành công nghiệp điện.
Phân loai bao thanh toan 1. Căn cứ vao pham vi lanh thổ − BTT nôi địa: la hinh thưc câp tin dụng cua môt NHTM hay môt công ty tai chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phat sinh tư viêc mua ban hang hoa, cung ưng dịch vụ đa đươc bên ban hang va bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ 3 trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia. − BTT quốc tế: là hình thức cấp tín dụng của NHTM hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phat sinh tư viêc mua ban hang hoa, cung ưng dịch vụ đa đươc bên ban hang va bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ này vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Căn cứ phương thức sản phẩm: − Phương thức BTT từng lần: từng lần thực hiện mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua theo những thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đơn vị thực hiện BTT sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giá trị giao dịch của lần mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đó.
− Phương thức BTT hạn mức: đơn vị thực hiện BTT sẽ xem xét cấp một hạn mức BTT tối đa cho bên bán hàng. Căn cứ vào việc giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được thực hiện giữa bên bán và bên mua mà đơn vị BTT sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng, miễn là tổng số tiền ứng trước tại một thời điểm không đươc vươt qua han mưc BTT đa đươc câp. − Đồng BTT: các đơn vị BTT phải liên kết với nhau để thực hiện BTT cho bên bán hàng để phân tán rủi ro hoặc do số tiền ứng trước lớn hơn tỷ lệ an toàn trên vốn điều lệ hoạt động của đơn vị BTT theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất sản phẩm − BTT có quyền truy đòi: đơn vị thực hiện BTT có quyền truy đòi lại số tiền đa ưng trươc cho bên ban hang khi bên mua hang không co kha năng hoan thanh nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu.
− BTT không truy đòi: Đơn vị BTT chỉ có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hay một lý do nào khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng. Căn cứ cach thức thưc hiên − Cách thức truyền thống (factoring): Bên bán và bên mua sẽ liên hệ với đơn vị BTT để biết chắc rằng đơn vị BTT có mua lại các khoản phải thu cho bên bán hay không trước khi thực hiện thỏa thuận và ký kết hợp đồng mua bán. − Cách thức phi truyền thống (reverse factoring): đơn vị BTT sẽ tiến hành xây dựng những tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán để thực hiện BTT tại đơn vị BTT đó, miễn là tổng số tiền ứng trước không được vượt quá hạn mức BTT đã cấp. Quy trinh thưc hiên san phâm BTT 1.1 Quy trình BTT nội địa Hình 1.1: Hệ thống một đơn vị BTT nội địa (chi tiết Phụ lục 1 đính kèm) 1.
Quy trinh bao thanh toan quốc tế Hình 1.2: Hê thông hai đơn vi BTT (thương đươc sư dung trong BTT quôc tê) 5 Như vậy, qua quy trình thực hiện sản phẩm BTT nội địa, có thể thấy: − Bên bán chuyển nhượng hoàn toàn quyền sở hữu khoản phải thu của mình cho đơn vị BTT và không còn quyền định đoạt tới khoản thu đó nữa. − Đơn vị BTT sẽ trưc tiêp theo doi sô sach công nơ, theo doi cac khoan thu đa được BTT khi đến hạn và tiến hành thu hồi khoản phải thu khi đến hạn. − Bên mua sẽ phải thanh toán khoản nợ phải trả cho đơn vị BTT mặc dù mua hàng hóa trực tiếp từ bên bán Như vậy, qua quy trình thực hiện sản phẩm BTT quốc tế, có thể thấy: − Bên bán chuyển nhượng hoàn toàn quyền sở hữu khoản phải thu của mình cho đơn vị BTT xuất khẩu và không còn quyền định đoạt tới khoản thu đó nữa. − Đơn vị BTT xuât khâu sẽ không trưc tiêp theo doi sô sach công nơ, theo doi cac khoan thu đa BTT khi đên han ma tiên hanh chuyên nhương hoa đơn BTT cho đơn vị BTT nhập khẩu.
Trên cơ sở được đơn vị BTT nhập khẩu thanh toán lại các khoản phải thu, đơn vị BTT xuất khẩu sẽ đối chiếu lại với bên bán để thu hồi hay chi trả khoản chênh lệch và các khoản chi phí khác khi phát sinh. − Đơn vị BTT nhâp khâu sẽ chịu trach nhiêm theo doi cac khoan phai thu phat sinh sau khi đươc chuyên nhương, theo doi thời gian thu hôi cac khoan phai thu, tiến hành thu hồi công nợ và báo có cho đơn vị BTT xuất khẩu. Bên mua sẽ phải thanh toán khoản nợ phải trả cho đơn vị BTT nhập khẩu mà không cần quan tâm đến các yếu tố khác. So sánh BTT nội địa và BTT quốc tế Có rất nhiều điểm giống và khác nhau giữa BTT nội địa và BTT xuất khẩu, chẳng hạn như: − Tài trợ về tài chính trên cơ sở các khoản phải thu.
− Kiểm soát tín dụng và chấp thuận rủi ro tín dụng. − Theo dõi sổ cái bán hàng. − Thu nợ các hóa đơn bán hàng chưa thanh toán. Tuy nhiên, ngoài một số điểm giống nhau thì giữa BTT nội địa và BTT xuất khẩu cũng có rất nhiều điểm khác nhau theo tập quán quốc tế và đặc điểm của mỗi nước.
6 BTT NỘI ĐỊA BTT QUỐC TẾ Đơn vị BTT theo dõi và quản lý sổ Đơn vị BTT phải quản lý với nhiều loại tiền cái bán hàng theo một đơn vị tiền tệ khác nhau. Thông thường thì khoản ứng duy nhất, cùng loại với loại tiền đã trước sẽ theo đơn vị tiền tệ thanh toán trong ứng trước. Đơn vị BTT chịu trách nhiệm đồng Dưới hệ thống 2 đơn vị BTT thì trong khi thời về việc kiểm soát tín dụng và đơn vị BTT xuất khẩu cung cấp sự bảo vệ chấp nhận rủi ro tín dụng. khỏi rủi ro tín dụng cho người bán hàng và đơn vị BTT nhập khẩu phải chịu trách nhiệm kiểm soát tín dụng của nhà nhập khẩu địa phương.