Phát triển ngân hàng số tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Luận văn Thạc sĩ

Phân tích chuyên sâu về sự phát triển ngân hàng số tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm thách thức và cơ hội.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển ngân hàng số tại Việt Nam

Ngân hàng số là mô hình ngân hàng ứng dụng công nghệ số hóa toàn diện vào hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam, xu hướng phát triển ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sự bùng nổ của công nghệ thông tin và tỷ lệ sử dụng internet cao. Theo số liệu năm 2020, Việt Nam có hơn 70 triệu người dùng internet, trong đó 72% sử dụng điện thoại thông minh. Cơ cấu dân số trẻ với khoảng 70% người trưởng thành tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận dịch vụ tài chính số. Các ngân hàng thương mại trong nước đã triển khai nhiều kênh giao dịch số hóa như internet banking, mobile banking và ví điện tử. Đến tháng 10 năm 2019, Ngân hàng Nhà nước ghi nhận 18 tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ ngân hàng số. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo áp lực cạnh tranh buộc các ngân hàng phải chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và trải nghiệm khách hàng.

1.1. Khái niệm và đặc điểm ngân hàng số

Ngân hàng số là tổ chức tín dụng sử dụng công nghệ số làm nền tảng cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng. Đặc điểm nổi bật bao gồm tính liên thông giữa các kênh giao dịch, khả năng số hóa toàn bộ quy trình từ đăng ký đến giao dịch. Ngân hàng số thuần túy hoạt động hoàn toàn trên nền tảng trực tuyến, không依赖 mạng lưới chi nhánh vật lý. Dịch vụ bao gồm tư vấn từ xa qua video call, chatbot và ứng dụng di động. Khách hàng có thể tự phục vụ thông qua smartphone hoặc website mà không cần đến quầy giao dịch truyền thống.

1.2. Thực trạng triển khai ngân hàng số tại Việt Nam

Thực tế triển khai ngân hàng số tại Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển ban đầu. Các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, Techcombank đã đầu tư mạnh vào nền tảng công nghệ số. Số lượng giao dịch qua kênh điện tử tăng trưởng trung bình 30-40% mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng số主要集中 ở khu vực thành thị. Khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa vẫn là điểm trắng về dịch vụ tài chính số. Thói quen sử dụng tiền mặt của người dân vẫn chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi quá trình chuyển đổi cần thời gian và chiến lược phù hợp.

II. Phân tích thách thức và cơ hội phát triển ngân hàng số

Phát triển ngân hàng số tại Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức song cũng mở ra cơ hội lớn trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Về thách thức, khung pháp lý cho hoạt động ngân hàng số chưa hoàn thiện, thiếu quy định rõ ràng về xác thực điện tử, chữ ký số và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Hạ tầng công nghệ tại nhiều ngân hàng còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu tích hợp đa kênh. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính ngân hàng khan hiếm. Về cơ hội, hội nhập kinh tế quốc tế tạo áp lực cạnh tranh buộc các ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Hiệp định thương mại tự do cho phép tiếp cận công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng smartphone cao và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng số.

2.1. Thách thức pháp lý và công nghệ

Khung pháp lý cho ngân hàng số tại Việt Nam còn nhiều bất cập. Các quy định về định danh khách hàng điện tử (e-KYC), hợp đồng điện tử và giao dịch số chưa đồng bộ. Bảo mật thông tin và quyền riêng tư dữ liệu người dùng chưa được quy định chặt chẽ. Về mặt công nghệ, nhiều ngân hàng sử dụng hệ thống core banking cũ, khó tích hợp với các nền tảng số mới. Chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ cao đặt áp lực tài chính lên các tổ chức tín dụng. Nguy cơ tấn công mạng và tội phạm công nghệ ngày càng phức tạp, đòi hỏi đầu tư lớn vào hệ thống an ninh thông tin.

2.2. Cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội cho phát triển ngân hàng số Việt Nam. Các hiệp định thương mại tự do tạo điều kiện tiếp cận công nghệ tài chính (fintech) tiên tiến từ các nước phát triển. Cạnh tranh với ngân hàng ngoại迫使 ngân hàng trong nước phải cải thiện dịch vụ và giảm phí giao dịch. Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài mang theo kinh nghiệm triển khai ngân hàng số成熟. Việt Nam có thể học hỏi mô hình thành công từ các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc. Ngoài ra, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực fintech tăng trưởng mạnh, hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong ngành tài chính ngân hàng.

III. Giải pháp thúc đẩy phát triển ngân hàng số Việt Nam

Để thúc đẩy phát triển ngân hàng số trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện khung pháp lý với các quy định rõ ràng về giao dịch điện tử, xác thực trực tuyến và bảo vệ dữ liệu người dùng. Thứ hai, đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng nền tảng core banking hiện đại hỗ trợ tích hợp đa kênh. Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Thứ năm, tăng cường giáo dục tài chính số cho người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Cuối cùng, khuyến khích hợp tác giữa ngân hàng truyền thống và các công ty fintech để tạo hệ sinh thái dịch vụ tài chính số toàn diện.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách

Chính phủ cần ban hành luật chuyên biệt về giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Quy định cụ thể về e-KYC, chữ ký số và giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử cần được标准化. Ngân hàng Nhà nước nên xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho interoperability giữa các hệ thống ngân hàng số. Cơ chế sandbox cho phép thử nghiệm sản phẩm fintech mới cần được mở rộng. Quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin cần chặt chẽ hơn, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính cho dự án chuyển đổi số ngân hàng nên được xem xét.

3.2. Đầu tư hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực

Các ngân hàng cần đầu tư mạnh vào nâng cấp hệ thống core banking, chuyển đổi sang kiến trúc mở hỗ trợ API. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (machine learning) vào phân tích dữ liệu khách hàng và quản trị rủi ro. Xây dựng trung tâm dữ liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế về an toàn và bảo mật. Về nhân lực, hợp tác với các trường đại học đào tạo chuyên ngành fintech và công nghệ tài chính. Thu hút chuyên gia công nghệ thông tin từ nước ngoài thông qua chính sách đãi ngộ cạnh tranh. Đào tạo lại nhân viên ngân hàng về kỹ năng số và tư duy đổi mới sáng tạo.

IV. Kết luận và triển vọng phát triển ngân hàng số Việt Nam

Phát triển ngân hàng số là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0. Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế với dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng internet và smartphone cao, tạo thị trường tiềm năng cho dịch vụ tài chính số. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số ngân hàng đòi hỏi sự đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, đầu tư công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Hội nhập quốc tế vừa tạo áp lực cạnh tranh, vừa mở ra cơ hội tiếp cận công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến. Sự hợp tác giữa ngân hàng truyền thống và fintech sẽ định hình tương lai ngành tài chính ngân hàng. Dự báo trong giai đoạn 2025-2030, tỷ lệ người trưởng thành sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam sẽ đạt trên 80%, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế bền vững.

4.1. Tác động kinh tế xã hội của ngân hàng số

Ngân hàng số góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện, đưa dịch vụ tài chính đến khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa. Cạnh tranh gia tăng từ ngân hàng số giúp giảm phí dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm tài chính cho người tiêu dùng. Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn qua nền tảng cho vay trực tuyến. Giao dịch không tiền mặt giúp minh bạch hóa nền kinh tế, giảm tội phạm tài chính. Ngân hàng số tạo ra hàng triệu việc làm mới trong lĩnh vực công nghệ tài chính, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

4.2. Xu hướng phát triển ngân hàng số tương lai

Tương lai ngân hàng số Việt Nam sẽ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo và blockchain. Ngân hàng mở (open banking) với mô hình chia sẻ dữ liệu qua API将成为 xu hướng chủ đạo. Dịch vụ ngân hàng嵌入 trong các nền tảng thương mại điện tử và siêu ứng dụng ngày càng phổ biến. Thanh toán không tiếp xúc qua QR code và NFC tiếp tục tăng trưởng. Ngân hàng số sẽ mở rộng sang lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư và quản lý tài sản cá nhân. Mô hình ngân hàng as-a-service cho phép doanh nghiệp phi tài chính cung cấp dịch vụ ngân hàng, tạo hệ sinh thái số toàn diện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026
Phát triển ngân hàng số tại việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG SỐ CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG SỐ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CHƢƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG SỐ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG SỐ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ngân hàng số là đƣợc cung ứng ở các quốc gia trên thế giới từ khá lâu và ngày càng mở rộng và phát triển. Hiện nay, Ngân hàng số đã và đang trở thành xu hƣớng chính của các ngân hàng tại Mỹ, Châu Âu, một số nƣớc phát triển ở Châu Á… Cùng với đó, các nghiên cứu về Ngân hàng số cũng rất phong phú. Nghiên cứu về khái niệm, bản chất của Ngân hàng số Chris Skinner (2014) đã chỉ ra trong “Digital Bank” các yếu tố cấu thành ngân hàng số với cốt lõi kỹ thuật số xây dựng lên các dịch vụ, qua công nghệ tiếp cận với khách hàng dƣới sự quản lý và tác động bởi con ngƣời. Nghiên cứu chỉ dừng lại ở khái niệm cốt lõi mà không bàn tới vấn đề phát triển Ngân hàng số.

Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của Ngân hàng số. Trƣớc hết, một số nghiên cứu trên thế giới đề cập tới những tiến bộ khoa học, công nghệ, những thông tin tri thức mà các cuộc cách mạng công nghệ toàn cầu mang lại, những ứng dụng công nghệ hiện đại vào các hoạt động số hóa ngành ngân hàng. Trong đó, IOSCO Research Report on Financial Technologies (2017), Norbert Schwwieters và Bob Morits (2017) trong “10 Principles for Leading the Next Industrial Revolution” tập trung vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đột phá: internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, điện toán đám mây. đã và đang gây sức ép lên các mô hình truyền thống, tạo môi trƣờng cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính.

Từ đó, chuyển đổi mô hình từ truyền thống sang số hóa là điều tất yếu đối với các tổ chức tài chính. Tuy nhiên, nghiên cứu chƣa đánh giá khả năng thích ứng của các tổ chức tài chính với làn sóng cách mạng công nghệ, để có những ứng biến linh hoạt trong phát triển các dịch vụ tài chính. Một hƣớng nghiên cứu nữa là tập trung phân tích về sức mạnh của số hóa trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và làm thế nào để phổ biến rộng rãi các dịch vụ 3 tài chính số tới mọi đối tƣợng, tránh độc quyền số hóa. Theo McKinsey Global Institute (2016), trong “Digital finance for all: Powering inclusive growth in emerging economies” đã khảo sát ở nhiều quốc gia cho thấy sức mạnh của việc số hóa các dịch vụ ngân hàng tác động lớn tới nền kinh tế, mang tới nhiều cơ hội cung cấp dịch vụ tài chính nhanh chóng và chi phí thấp, tuy nhiên các dịch vụ ngân hàng số chƣa phổ biến tơi phần lớn cá nhân, doanh nghiệp nhỏ.

Nghiên cứu cũng đƣa ra một số biện pháp nhằm chuyển đổi cách thức giao dịch của khách hàng, các biện pháp xây dựng 3 khối công nghệ cơ sở hạ tầng đối với tổ chức ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu chƣa làm rõ nguyên nhân đại đa số khách hàng còn ngần ngại khi sử dụng các ngân hàng số để từ đó đƣa ra các biện pháp hiệu quả. Tunde Olanrewaju (2013) đã viết trong “The rise of the digital bank” phân tích theo hƣớng cụ thể hơn ở Châu Âu nhu cầu chuyển đổi ngân hàng số của các ngân hàng do sức ép từ nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, từ đó đƣa ra các giải pháp để phát triển ngân hàng số. Bên cạnh đó, diễn biến chuyển đổi ngân hàng số ở Châu Âu trong mối quan hệ với nhƣ cầu của khách hàng chƣa đƣợc tác giả đề cập tới.

Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác về một trong những dịch vụ của ngân hàng số: Safeena R.et al (2011) đã viết trong “Internetbanking Adoption in an Emerging Economy: Indian Con- sumer’s Perspective” hay Nimako S. et al ( 2013) viết trong “ Customer Satisfaction With Internet Banking Service Quality In the Ghanaian Banking Industry”. Bài nghiên cứu về cảm nhận của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Internet Banking ở ngân hàng ở Ấn Độ và ngành ngân hàng ở quốc gia Ghana. Cả hai nghiên cứu đểu chỉ ra rằng khách hàng vẫn chƣa hài hòng và chƣa sẵn sàng sử dụng dịch vụ bởi lý do bảo mật thông tin, hƣớng dẫn trực tuyến cho khách hàng chƣa đáp ứng đƣợc mong muốn.

Nghiên cứu đã đƣa ra những biện pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng tuy nhiên chƣa đi vào phân tích nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trên.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Kể từ khi mới xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay, ngân hàng số đang trở thành mục tiêu phát triển của hầu hết các ngân hàng, trƣớc nhu cầu mạnh mẽ của khách hàng phát triển Ngân hàng số là điều tất yếu. Tuy nhiên, ở nƣớc ta hành lang 4 pháp lý chƣa thích ứng với cơ chế hoạt động của NHS, văn bản pháp quy của Ngân hàng nhà nƣớc hay một số bộ ngành cũng chƣa đáp ứng đủ. Hầu hết, tại các ngân hàng mới chỉ phát triển một số nghiệp vụ tín dụng và một số dịch vụ ngân hàng điện tử nhất định nhất định đƣợc tạo bổ sung trên nền tảng truyền thống nhƣ Online Banking/E-banking bao gồm các dịch vụ con nhƣ Mobile banking, internet banking, SMS banking… Trƣớc đây, phần lớn ngân hàng chƣa có tiêu chuẩn hoá cụ thể, cách tiếp cận khách hàng chủ yếu theo hƣớng truyền thống, các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế còn ít, khách hàng thƣờng chỉ tham gia mang tính tham khảo, tìm hiều thông tin, dịch vụ chƣa đạt đƣợc độ tin cậy lớn. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, các ngân hàng nội địa Việt Nam hiện nay đã, đang có chiến lƣợc số hóa với “ tham vọng “ phủ sóng xa hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn mở rộng, tạo đƣợc niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng số.

Vì vậy, rất nhiều học giả đã quan tâm và đánh giá đối với phát triển ngân hàng số, luận văn đã sử dụng một số kết quả nghiên cứu dƣới đây làm nền tảng cho những lý luận và minh chứng cho những luận định. Khi khách hàng chuyển hành vi tiêu dùng sang trực tuyến, các nhà cung cấp nói chung và ngân hàng - trung gian tài chính nói riêng sẽ phải có sự chuyển dịch tƣơng ứng, dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc tạo ra để bổ sung cho các dịch vụ trên và là những mắt xích trong phát tiển ngân hàng số. Phạm Thu Hƣơng (2012) đã nghiên cứu trong “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”. Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa đƣợc những vấn đề về lý luận, xây dựng chỉ tiêu và thực tiễn về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử.

Tác giả dựa trên các mô hình gốc đã phát triển mô hình nghiên cứu về nhân tố tác động tới sự phát triển dịch vụ và các nhân tố tác động tới tâm lý tiếp nhận của khách hàng đối với NHĐT. Đƣa ra tác động của hội nhập kinh tế tới phát triển dịch vụ NHĐT, dựa trên kinh nghiệm của Malaysia và Singapore tác gỉa rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Dựa trên mô hình lý thuyết, và thực trạng phát triển phát triển dịch vụ NHĐT tại Việt Nam có những đánh giá cụ thể và toàn diện từ đó đƣa ra các giải pháp, kiến nghị cho nhà nƣớc, cũng nhƣ các ngân hàng trƣớc những cơ hội và thách thức trong phát triển NHĐT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. 5 Nghiên cứu về tác động của sự phát triển bùng nổ công nghệ tác động đến phát triển ngành ngân hàng nói chung và Ngân hàng số nói riêng.

Việt Hải và Thế Quân (2015) đã viết trong “ Digital Banking Ngân hàng trong kỷ nguyên số”, từ phân tích khái niệm, thành phần của ngân hàng số tác giả đƣa ra các bƣớc triển khai digital banking bao gồm 3 bƣớc. Nghiên cứu chƣa chỉ ra đƣợc hiện trạng phát triển ngân hàng số tại Việt Nam, đặc trƣng riêng của nhu cầu thị trƣờng Việt Nam. Ngô Quỳnh Trang (2018) đã nghiên cứu trong “Cuộc cách mạng 4.0 số hóa ngành ngân hàng”, tác giả không phân tích bản chất ngân hàng số là gì mà đi sâu nghiên cứu những cơ hội lớn cho ngành ngân hàng khi tiếp nhận những tiến bộ khoa học kỹ thuật, tác giả đƣa ra 05 xu hƣớng tất yếu đòi hỏi ngành ngân hàng cần chuyển dịch từ ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số. Trƣớc diễn biến số hóa tại các ngân hàng Việt Nam: đang triển khai những bƣớc đầu nhƣ ngân hàng VPBank, TPBank…hay sự kết hợp giữa các ngân hàng với công ty công nghệ, triển khai nghiê cứu dữ liệu lớn, tuy nhiên đây chỉ là những bƣớ đi sơ khai.

Do đó, tác giả đƣa ra một số kiến nghị giúp quá trình số hóa ngành ngân hàng. Phan Ngọc Tấn (2019) cũng nghiên cứu vấn đề trên trong “Tác động và thách thức đối với ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên 4. Tác giả đánh giá khái quát về cuộc cách mạng công nghệ 4.0 ảnh hƣởng mạnh mẽ tới ngành ngân hàng, từ đó phân tích những thuận lợi và khó khăn đối với phát triển ngân hàng số của NHTM và đƣa ra một số giải pháp đối với ngành ngân hàng. Trƣớc những chuyển đổi hành vi tiêu dùng của khách hàng, bên cạnh những dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc tạo ra để bổ sung trên nền tảng ngân hàng truyền thống thì Ngân hàng số phát triển là điều tất yếu.

Bùi Diệu Anh (2018) đã viết trong “phát triển ngân hàng số: cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại Việt Nam “, tác giả nghiên cứu và chỉ ra những đặc trƣng của ngân hàng so, phân tích những điểm khác biệt của mô hình ngân hàng này so với ngân hàng truyền thống, trƣớc những lợi ích và khó khăn tác giả đƣa ra một số giải pháp cho việc phát triển ngân hàng số tại Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, tác giả chƣa đánh giá thực trạng phá triển ngân hàng số trong giai đoạn này để đƣa ra đƣợc những giải pháp tối 6 ƣu nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ