Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài. - Chương 2: Những vấn đề lý luận về năng lượng sạch, phát triển năng lượng sạch và pháp luật phát triển năng lượng sạch. - Chương 3: Thực trạng pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam. - Chương 4: Hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.
9 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Pháp luật phát triển năng lượng sạch được xem xét như là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, lĩnh vực pháp luật này còn tương đối mới mẻ. Thực tế, trước năm 1986 vấn đề phát triển năng lượng sạch không được đề cập trong các văn bản pháp luật.
Ngay cả khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề bảo vệ môi trường đã được quan tâm thể hiện bằng việc ra đời của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác về bảo vệ môi trường thì vấn đề phát triển năng lượng sạch cũng chưa được chú ý. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, khi ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng nghiêm trọng, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, tình trạng thiếu điện trong sản xuất, sinh hoạt và báo động vấn đề an ninh năng lượng… thì việc phát triển năng lượng sạch được coi là cần thiết và cấp bách. Trong khoảng thời gian này, nhiều quy định của pháp luật về phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được ban hành. Các quy định về phát triển năng lượng sạch nằm rải rác trong Luật Điện lực năm 2004 (Điều 4, Điều 13, Điều 29, Điều 60, Điều 61), Luật Đầu tư năm 2014 (Điều 16), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 5, Điều 6, Điều 43, Điều 45) Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (Điều 9), Quyết định 1208/2011/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/07/2011 Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, Quyết định số 1855/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/12/2007 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/08/2007 về một số cơ chế chính sách, tài chính đối với các dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch, Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 10 ngày 10/05/2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam, Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/06/2011 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, Quyết định số 11/2017/QĐ- TTg ngày 11/04/2017 về cơ chế khuyến khích phát phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam…Cùng với đó, các nhà nghiên cứu khoa học đã đề cập tới vấn đề năng lượng sạch, phát triển năng lượng sạch, pháp luật phát triển năng lượng sạch ở nhiều góc độ khác nhau.
Những công trình liên quan đến khái niệm năng lượng sạch Nội dung đầu tiên, quan trọng cần phải giải quyết khi nghiên cứu pháp luật phát triển năng lượng sạch là vấn đề khái niệm năng lượng sạch. Bởi vì, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lượng sạch và hầu hết các quan điểm đều đồng nhất khái niệm năng lượng sạch với khái niệm năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Muốn xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về phát triển năng lượng sạch thì trước hết phải xác định được thế nào là năng lượng sạch? Năng lượng sạch có những đặc điểm cơ bản như thế nào? Trên thực tế, người ta hay dùng các khái niệm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng xanh để chỉ các nguồn năng lượng phi hóa thạch, thân thiện với môi trường. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có đề cập, phân tích làm rõ khái niệm năng lượng sạch và các khái niệm gần gũi với khái niệm năng lượng sạch gồm: Trong công trình nghiên cứu “Renewable energy resources: Current status, future prospects and their enabling technology.
Renewable and Sustainable Energy Reviews”, Omar và cộng sự đưa ra khái niệm năng lượng tái tạo mang tính liệt kê và nhấn mạnh vào khả năng tái tạo. Cụ thể: “Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng và địa nhiệt”. Tương tự như Omar và cộng sự, Krishnan trong nghiên cứu “Implementation of Renewable Energy to Reduce Carbon Consumption and Fuel Cell as a Back-up Power for National Broadband Network (NBN) in Australia” đánh giá cao khả năng tái tạo và cho rằng là đó là một lợi thế của năng lượng tái tạo so với năng lượng hóa thạch truyền thống. Do vậy, việc sử dụng năng lượng tái tạo sẽ bền vững hơn so với năng lượng hóa thạch.
11 Trong công trình nghiên cứu: “Risk management methods applied to renewable and sustainable energy: A review”, hai tác giả Wing và Jin nhấn mạnh vào đặc tính bảo vệ môi trường của năng lượng tái tạo. Theo hai tác giả này, năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải khí nhà kính và phát thải khí ô nhiễm khác, giảm tác động tới môi trường, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống và đa dạng hóa phát điện hỗn hợp. Luận văn thạc sĩ luật học của Phan Duy An – Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010: “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay”. Luận văn đã phân tích khái niệm năng lượng tái tạo dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa toàn thư, theo ý nghĩa vật lý, dưới góc độ pháp luật.
Cuối cùng luận văn đưa ra kết luận khái niệm năng lượng tái tạo trong các văn bản pháp lý hiện nay chưa thống nhất, còn nhiều mâu thuẫn cần được hệ thống hóa. Luận văn cũng đưa ra quan điểm riêng về khái niệm năng lượng tái tạo. Theo đó: “Năng lượng tái tạo là các dạng năng lượng phi hóa thạch, có khả năng tái tạo mà con người có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau trong lao động, sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”. Kết luận này trong luận văn thạc sĩ của Phan Duy An được tác giả luận án sử dụng khi phân tích phần khái niệm năng lượng sạch.
Bởi vì, một trong những đặc điểm quan trọng nhất của năng lượng sạch là có thể tái tạo được. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyền – Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013: “Pháp luật phát triển năng lượng xanh ở Việt Nam”. Luận văn đã đưa ra hai quan điểm lớn về khái niệm năng lượng xanh ở nước ta hiện nay. Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm năng lượng xanh với khái niệm năng lượng tái tạo.
Quan điểm thứ hai cho rằng khái niệm năng lượng xanh rộng hơn, bao gồm cả năng lượng tái tạo và năng lượng sạch. Tác giả Nguyễn Thị Tuyền đồng ý với quan điểm thứ hai về khái niệm năng lượng xanh. Đồng thời, theo luận văn việc khuyến khích sử dụng năng lượng xanh không chỉ là việc sử dụng nhiều hơn các nguồn năng lượng tái tạo mà còn thể hiện ở việc cải tiến các phương thức sử dụng năng lượng hóa thạch sao cho “xanh hơn” và ít chất thải hơn (như công nghệ than sạch). Kết luận này đã gợi thêm suy nghĩ cho tác giả luận án khi phân tích khái niệm năng 12 lượng sạch.
Có lẽ năng lượng sạch do tính chất vật lí vốn có của nó chưa đủ mà cần phải có cả sự hỗ trợ của khoa học công nghệ. Trong cuốn sách “Vấn đề an ninh năng lượng và các giải pháp khai thác năng lượng mặt trời từ vũ trụ truyền về trái đất”, hai tác giả Đào Khắc An và Trần Mạnh Tuấn đã đưa ra các khái niệm năng lượng hóa thạch, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân, năng lượng xanh, năng lượng sạch. Trong cuốn sách “Năng lượng xanh”, tác giả Ngô Đăng Nghĩa đã đưa ra quan điểm về khái niệm năng lượng tái tạo và năng lượng xanh. Theo đó, năng lượng xanh là khái niệm rộng bao trùm cả khái niệm năng lượng tái tạo.
Bên cạnh đó, khái niệm năng lượng xanh còn mở rộng cho việc tồn trữ lượng năng lượng. Ví dụ các tòa nhà được cấu trúc mát mẻ vào ban ngày và ấm áp vào ban đêm do đặc điểm cấu trúc của nó thay vì sử dụng máy điều hòa hoặc máy sưởi. Quan điểm của hai tác giả Đào Khắc An, Trần Mạnh Tuấn về năng lượng sạch và quan điểm của tác giả Ngô Đăng Nghĩa về năng lượng xanh đã mở ra cho tác giả luận án một cách nhìn nhận mới về khái niệm năng lượng sạch, năng lượng xanh. Theo đó, tác giả luận án đã đặt câu hỏi: Phải chăng năng lượng sạch là dạng năng lượng có thể tái tạo và việc khai thác sử dụng nó không gây ô nhiễm môi trường do tính chất vốn có của nó hay cần đến sự hỗ trợ của khoa học công nghệ? Quan điểm về khái niệm năng lượng sạch của các tác giả Trần Quang Minh (chủ biên), Phạm Thị Xuân Mai, Trần Minh Nguyệt trong cuốn sách chuyên khảo “Phát triển năng lượng sạch ở Nhật Bản: Những kinh nghiệm và gợi ý cho Việt Nam” tương đồng với quan điểm về khái niệm năng lượng xanh của tác giả Phạm Thị Xuân Mai trong bài viết “Phát triển năng lượng xanh của Hàn Quốc” - Nghiên cứu Đông Bắc Á năm 2013 - Tập 2: văn hóa, xã hội, môi trường.
Theo đó, khái niệm năng lượng sạch, năng lượng xanh đồng nhất với khái niệm năng lượng tái tạo. Loại năng lượng này có đặc điểm không có chất thải hoặc có chất thải nhưng không hoặc ít gây ô nhiễm môi trường. Sau khi nghiên cứu quan điểm của các học giả trong các công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả luận án có một số nhận định cơ bản như sau: 13 - Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau về năng lượng sạch.